Hậu sản 10 – Ít sữa sau sinh mổ hay sau những ngày căng thẳng, là thiếu hay là tắc

·

Cập nhật

Ít sữa sau sinh, thiếu hay tắc

Khoảng tuần 31 của lần mang thai thứ hai, một chị tìm đến phòng khám vì sợ chuyện cũ lặp lại. Lần sinh trước, ngực chị căng đau dữ dội mà không ra được sữa. Chị không cho con bú được, cuối cùng phải dùng thuốc cắt sữa. Lần này, ngay khi còn mang thai, ngực chị đã căng đau, đau lan sang cả vùng nách.

Hồ sơ ghi hai ngực chị có nhiều tổn thương nhỏ rải rác, theo chị kể là bướu sợi tuyến (phòng khám không siêu âm vú), và có thêm mô tuyến vú ở nách. Bác sĩ nghĩ chuyện khó ra sữa của chị có thể đến từ cấu trúc vú, từ căng thẳng, và theo Đông y là Tâm Can uất hoả. Nỗi lo lớn nhất của chị là lần này lại không có sữa. Các lượt khám trước sinh dành phần lớn thời gian để gỡ những căng thẳng ấy.

Chị sinh thường, khoảng tuần 38. Đến ngày thứ tư, ngực căng lên, chị thấy như sữa đã về, vậy mà vắt mãi không ra.

Bài này nói về hai hoàn cảnh hay làm sữa ít, sau sinh mổ và sau một giai đoạn nhiều lo âu. Chị thuộc hoàn cảnh thứ hai.

Ngày thứ ba, thứ tư mà vú vẫn chưa căng

Sữa về mỗi người một khác. Tổng hợp nhiều nghiên cứu, mẹ thấy ngực căng lên trung bình sau khoảng 50 đến 73 giờ; quá 72 giờ thì coi là sữa về chậm (Pérez-Escamilla & Chapman 2001). Số liệu ở Mỹ: khoảng 1 trong 5 mẹ có sữa về sau 72 giờ (Dewey 2003), riêng ở mẹ sinh con đầu thì gần một nửa (Nommsen-Rivers 2010). Sữa về chậm đi kèm việc bé dễ sụt cân hơn và mẹ dễ thôi cho bú sớm (Dewey 2003; Brownell 2012), nên mẹ cần được giúp sớm; sữa về chậm không có nghĩa là mẹ không có sữa.

Mẹ sinh mổ có nguy cơ sữa về chậm cao hơn, khoảng gấp đôi mẹ sinh thường, theo một nghiên cứu ở Úc (Scott 2007), nhất là khi ca mổ không lên kế hoạch trước (Chapman 1999). Đây là nghiên cứu quan sát, cho thấy hai chuyện hay đi cùng nhau, chưa chứng minh nguyên nhân.

Một bệnh viện ở Ý thấy 71,5% bé sinh thường được bú ngay trong phòng sinh, bé sinh mổ chỉ 3,5% (Zanardo 2010). Các tác giả cho rằng mẹ sau mổ chưa thể cho bú thoải mái ngay là lời giải thích hợp lý nhất. Thêm vào đó còn có đau, thuốc, mệt, và với ca mổ cấp cứu là cả cuộc chuyển dạ dài trước đó.

Khoảng cách ấy có thể thu hẹp. Một nghiên cứu khác ở Úc thấy bé sinh mổ nhận ít sữa hơn từ ngày 2 đến ngày 5, đến ngày thứ 6 thì đã ngang bé sinh thường (Evans 2003). Khi đã bắt đầu cho bú được, tỷ lệ mẹ sinh mổ còn cho con bú lúc 6 tháng cũng không khác mẹ sinh thường (Prior 2012). Việc mẹ làm được ngay là cho bé da kề da và bú sớm khi mẹ đủ tỉnh, nhờ người đỡ con, dùng thuốc giảm đau đủ để bế được con. Còn tư thế bú khi còn vết mổ, mẹ xem trong bài "Sẹo sinh mổ đã liền mà vẫn đau, và chuyện cho con bú".

Sách Đông y xưa không bàn sinh mổ vì thời ấy chưa có, chỉ nói tới mất máu nhiều (Hải Thượng Lãn Ông), sinh khó và cho bú quá muộn (Hạ Quế Thành). Sách của thầy Sài Tùng Nham chép một ca mổ lấy thai, một tuần sau sinh sữa ít, ngực căng đau, người mẹ căng thẳng, trầm uất. Thầy xếp vào Can uất khí trệ, lời bàn không nhắc gì đến vết mổ. Chỉ là một ca, có điều nó cho thấy sau mổ, chỗ vướng có khi nằm ở nỗi lo.

Khi đang lo, sữa khó xuống

Một thí nghiệm nhỏ ở Nhật cho 22 mẹ vừa cho con bú vừa làm tính nhẩm hoặc nghe tiếng ồn. Số đợt tiết oxytocin, chất giúp sữa chảy xuống, giảm gần một nửa. Prolactin và lượng sữa của cữ đó thì không khác (Ueda 1994). Căng thẳng tức thời làm sữa khó xuống hơn là làm cạn sữa. Nếu cảnh ấy lặp lại nhiều lần, sữa có thể ít dần vì vú không được rút đủ; còn căng thẳng kéo dài ảnh hưởng ra sao thì chưa rõ (Dewey 2001).

Một phân tích gộp 16 thử nghiệm về nghe nhạc, thư giãn có hướng dẫn, chánh niệm, tập thở thấy lượng sữa tăng, bé tăng cân tốt hơn, mẹ bớt lo âu chút ít, với mức chắc chắn vừa phải (Levene 2024). Phần lớn các nghiên cứu làm ở mẹ vắt sữa cho con sinh non, và tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn lúc 2 tháng thì không khác. Vậy thư giãn có thể giúp, và vài phút nghe nhạc hay tập thở trước cữ vắt là cách dễ bắt đầu.

Thầy Hạ Quế Thành ghi đích danh người "sau sinh bị tổn thương do sợ hãi, lo âu, căng thẳng" thì Can uất khí trệ. Gặp trường hợp ấy, theo thầy, "cần tiến hành khai thông tâm lý", chỉ dùng thuốc gỡ uất, thông sữa đơn thuần thì không chữa khỏi được.

Ngực mềm hay ngực căng

Nhiều bà, nhiều mẹ trong nhà quen sờ bầu ngực để đoán con đủ sữa hay không, ngực căng là có sữa, ngực mềm là hết sữa. Sách Đông y cũng sờ bầu ngực, nhưng để phân biệt hai kiểu ít sữa.

Phó Thanh Chủ tách hẳn thành hai mục. Mục thứ nhất nói người sau sinh "tuyệt nhiên không có một giọt sữa. Người ta cho là « ống mạch sữa bị bế tắc ». Ai biết đó là bởi « khí huyết đều khô cạn »". Sữa do khí huyết hoá ra, khí huyết không đủ thì lấy gì làm sữa. Thiếu như vậy mà chỉ tìm thuốc thông mạch sữa thì, theo ông, "có khác nào tới kẻ đói mà xin ăn". Cách chữa là nuôi khí huyết cho đủ.

Mục thứ hai nói người sau sinh "chợt có việc gì bất như ý, bèn làm cho hai bầu sữa đầy rực lên đau nhức", và ông nói rõ chuyện này "không phải bởi không có sữa", gốc ở Can khí uất kết. Gỡ được cái uất thì mạch sữa tự nhiên thông.

Thầy Hạ Quế Thành cho một cách nhận biết dễ nhớ. Ngực mềm, sữa trong loãng thuộc hư; vú căng đau, sữa khá đặc thuộc thực. Trên thực tế, hai kiểu hay lẫn vào nhau. Sổ tay của thầy Hạ ghi trên lâm sàng "phần nhiều là hư thực lẫn lộn, lấy hư làm chính".

Còn đủ hay thiếu thì phải nhìn bé, thầy Hạ lấy việc sữa "có đáp ứng được nhu cầu của trẻ hay không làm tiêu chuẩn". Khoảng một nửa số mẹ thôi cho bú nêu lý do sữa không đủ, và tiếng khóc của bé hay bị hiểu nhầm là đói (Huang 2022). Thiếu sữa thật cũng có (Kent 2016), nên hãy đếm tã, cân bé, cách làm có trong bài "Ăn uống đầy đủ mà vẫn ít sữa, khi chỗ vướng nằm ngoài bữa ăn".

Cấu trúc ngực có khi là giới hạn thật, nhưng hiếm. Thiểu sản mô tuyến vú gặp ở dưới 5 trong 100 phụ nữ, gợi ý khi ngực ít lớn lên lúc mang thai và ít căng khi sữa về (ABM 2017; Neifert 1990). Chưa có nghiên cứu nào cho thấy bướu sợi tuyến làm giảm sữa. Mô tuyến vú ở nách khi sữa về cũng có thể căng đau; y văn mới có báo cáo ca (Viera 1999), nên cần để bác sĩ khám.

Tóm tắt: ít sữa sau sinh, thiếu hay tắc - Đông y Tâm Đức

Cữ bú, cữ vắt và cữ đêm

Thầy Hạ dặn cho bú càng sớm càng tốt, đúng giờ, ban đêm cho bé bú nhiều. Sách có một câu rất trúng với thói quen sờ ngực đoán sữa, "có những sản phụ vì giai đoạn đầu ngực không căng mà tự ý ngừng hoặc giảm số lần cho bú, thường gây ra thiếu sữa".

Với mẹ đang ít sữa, hướng dẫn cho bú đặt lên hàng đầu chuyện bé bú hoặc mẹ vắt cho đều: đủ số cữ trong ngày, không để quãng nghỉ quá dài, kể cả ban đêm, và mỗi lần bé phải bú thêm sữa công thức thì mẹ cũng vắt một lần (ABM 2017). Vắt nhẹ tay, có thể xoa và ép nhẹ bầu vú trong lúc vắt, không cần bóp mạnh. Mẹ đang dư sữa hay tắc tia thì làm khác, bài "Tắc tia sữa lặp đi lặp lại: vì sao bị lại và cách phòng" viết riêng chuyện này.

Với các mẹ vắt sữa cho con sinh non, quãng nghỉ dài nhất giữa hai lần vắt có liên quan đến lượng sữa. Vừa vắt tay vừa dùng máy, có ép vú trong lúc hút, thì lượng sữa cao hơn khoảng 48% (Morton 2009). Sữa mẹ vắt được thì cho bé dùng trước, rồi mới đến sữa công thức (NICE NG75). Nhịp bú, vắt thế nào là vừa với từng mẹ thì nên nhờ người hướng dẫn cho bú ngồi xem một cữ.

Thuốc tây hay thuốc Đông y lợi sữa đều do bác sĩ cân nhắc, sau khi đã chỉnh cách bú, cách vắt, vì rút sữa thưa hoặc kém thì thuốc cũng không làm sữa nhiều lên (ABM 2018). Những vị có thể làm giảm sữa được kể trong bài về uống thuốc Đông y khi đang cho bú.

Bú mẹ một phần vẫn quý

Hướng dẫn chăm sóc sau sinh của Anh (NICE) ghi rằng cho bú mẹ có lợi ngay cả khi chỉ trong thời gian ngắn. Bé có thể ăn một phần sữa công thức song song với bú mẹ, cha mẹ được chỉ cách giữ đủ sữa trong thời gian bé bú thêm (NICE NG194). Sổ tay Đông y của thầy Hạ cũng tính là điều trị có kết quả khi sữa mẹ đáp ứng được khoảng hai phần ba nhu cầu của bé.

Bé vừa bú mẹ vừa uống thêm sữa công thức thì ngày nào cũng vẫn có sữa mẹ, nhất là khi mẹ vắt một lần mỗi cữ bé bú thêm. Mẹ không có lỗi gì khi phải cho con bú thêm.

Khi nào báo phòng khám, khi nào đưa bé đi khám ngay

Mẹ nên báo phòng khám, hẹn khám nhi hoặc nhờ người xem cữ bú (chưa phải cấp cứu) khi:

  • Đến ngày thứ 3–4 sau sinh vẫn chưa thấy ngực căng lên, sữa chưa về;
  • Mẹ sinh mổ, cuộc sinh dài hay khó, sinh con đầu, hoặc mẹ thừa cân, đái tháo đường, mất máu nhiều, vì đây là những yếu tố dễ làm sữa về muộn, nên nhờ người xem cữ bú sớm trong một, hai tuần đầu;
  • Mẹ đã thiếu sữa ở lần trước, từng mổ ngực, hoặc ngực ít thay đổi khi mang thai, cũng cần được hỗ trợ cho bú sớm như vậy;
  • Bé phải bú thêm sữa công thức thường xuyên, hoặc mẹ muốn bắt đầu cho bú thêm, để được chỉ cách vắt giữ nguồn sữa;
  • Khoảng 2 tuần mà bé chưa về lại cân lúc sinh, chuyện không hiếm, nhất là ở bé sinh mổ (Paul 2016), nhưng nên cân lại và khám nhi để xem cữ bú;
  • Ngực có khối mới, to nhanh hoặc đau khi đang cho bú (Kulkarni 2020);
  • Mẹ lo âu, buồn bã kéo dài, mất ngủ.

Đưa bé đi khám ngay khi:

  • Bé li bì, khó đánh thức để bú, hoặc bú rất yếu;
  • Bé rất ít tã ướt, môi miệng khô;
  • Ngày thứ 4 bé vẫn đi ngoài rất ít, hoặc ngày thứ 5 vẫn còn phân su;
  • Bé vàng da lan nhanh hoặc vàng đậm.

Bé sụt hơn 1/10 cân nặng lúc sinh thì nên cho bé khám nhi sớm, ngay trong ngày; nếu kèm bú yếu, ít tã thì đi khám ngay.

Các dấu hiệu ở mẹ cần đi khám ngay (sốt, đau nhiều, sản dịch bất thường, vú sưng đỏ nóng…) đã có ở bài về những dấu hiệu cần đi khám ngay sau sinh.

Trở lại với chị

Cuối tuần đầu, bé đã bú trực tiếp cả hai bên, có bú thêm sữa công thức. Bác sĩ đề nghị chị vắt thêm một cữ đêm, khoảng mười, mười một giờ, và chẩn đoán lúc ấy đã có cả hai phía, vừa uất vừa huyết hư. Hai tuần, sữa về đều hai bên, vùng nách hết đau. Ba tuần, chị bớt được một cữ sữa công thức buổi sáng. Tuần thứ năm, chị ăn không ngon, đầy bụng; bác sĩ dặn thêm một cữ vắt lúc rạng sáng và một bữa phụ sau khi vắt. Khoảng bảy tuần, cứ chừng ba tiếng chị lại thấy sữa về, mỗi lần vắt khoảng 110 ml.

Đến lượt khám khoảng hai tháng rưỡi, cữ đêm bé đã bú hoàn toàn sữa mẹ, ban ngày vẫn bú thêm sữa công thức nhưng giảm một nửa. Bé từ 4,9 kg lúc hai tháng đã lên 5,5 kg, và chị bắt đầu biết đói sau khi cho bú. Càng về sau chị càng nghiêng về hư, nên hướng điều trị cũng chuyển dần, từ gỡ uất kèm kiện Tỳ, dưỡng huyết sang kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết, thông sữa.

Sang tháng thứ tư, cả hai mẹ con đều ốm, bé bú ít, chị mệt. Đến khoảng tháng thứ sáu, bé đã ăn dặm và bú bình, chị cho bú lắt nhắt rồi thôi hẳn vì thấy mệt, sau một chặng đường đã gắng sức từ tuần 31 của thai kỳ.

Lần sinh trước, ngực căng đau mà chị không cho con bú được. Lần này, bé được bú mẹ hơn sáu tháng, có giai đoạn cả cữ đêm chỉ cần sữa mẹ. Đối với chị, đã là một kỳ tích.

Mang gì theo khi đi khám

Sữa về chậm hay đang ít sữa thì mẹ có thể ghé phòng khám, mang theo vài dòng ghi cữ bú, cữ vắt hai, ba ngày gần nhất, số tã mỗi ngày, cân nặng gần nhất của bé và giấy ra viện. Bác sĩ sẽ hỏi chuyện ngủ, chuyện lo, xem lưỡi, bắt mạch, rồi cùng mẹ xem mình đang nghiêng về thiếu hay về tắc.

Để lưu

  • Đếm tã và cân bé, đừng đoán sữa qua bầu ngực hay tiếng khóc;
  • Sau sinh mổ, xin cho bé da kề da và bú sớm ngay khi mẹ đủ tỉnh;
  • Giữ đủ cữ bú hoặc vắt trong ngày, kể cả một cữ đêm;
  • Mỗi lần bé phải bú thêm sữa công thức, mẹ vắt sữa một lần;
  • Cho bé sữa mẹ vắt được trước, sữa công thức sau;
  • Vắt nhẹ tay, xoa và ép nhẹ bầu vú, không bóp mạnh;
  • Dành vài phút nghe nhạc hay tập thở trước cữ vắt.

Nguồn tham khảo

  • Pérez-Escamilla R, Chapman DJ. 2001. Validity and public health implications of maternal perception of the onset of lactation. J Nutr. 2001;131(11):3021S–3024S. PMID 11694640.
  • Chapman DJ, Pérez-Escamilla R. 1999. Identification of risk factors for delayed onset of lactation. J Am Diet Assoc. 1999;99(4):450–454. PMID 10207398.
  • Dewey KG et al. 2003. Risk factors for suboptimal infant breastfeeding behavior, delayed onset of lactation, and excess neonatal weight loss. Pediatrics. 2003;112(3 Pt 1):607–619. PMID 12949292.
  • Nommsen-Rivers LA et al. 2010. Delayed onset of lactogenesis among first-time mothers is related to maternal obesity and factors associated with ineffective breastfeeding. Am J Clin Nutr. 2010;92(3):574–584. PMID 20573792.
  • Brownell E et al. 2012. Delayed onset lactogenesis II predicts the cessation of any or exclusive breastfeeding. J Pediatr. 2012;161(4):608–614. PMID 22575242.
  • Scott JA, Binns CW, Oddy WH. 2007. Predictors of delayed onset of lactation. Matern Child Nutr. 2007;3(3):186–193. PMID 17539887.
  • Zanardo V et al. 2010. Elective cesarean delivery: does it have a negative effect on breastfeeding? Birth. 2010;37(4):275–279. PMID 21083718.
  • Evans KC et al. 2003. Effect of caesarean section on breast milk transfer to the normal term newborn over the first week of life. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed. 2003;88(5):F380–F382. PMID 12937041.
  • Prior E et al. 2012. Breastfeeding after cesarean delivery: a systematic review and meta-analysis of world literature. Am J Clin Nutr. 2012;95(5):1113–1135. PMID 22456657.
  • Ueda T et al. 1994. Influence of psychological stress on suckling-induced pulsatile oxytocin release. Obstet Gynecol. 1994;84(2):259–262. PMID 8041543.
  • Dewey KG. 2001. Maternal and fetal stress are associated with impaired lactogenesis in humans. J Nutr. 2001;131(11):3012S–3015S. PMID 11694638.
  • Levene I et al. 2024. Relaxation therapy and human milk feeding outcomes: a systematic review and meta-analysis. JAMA Pediatr. 2024;178(6):567–576. PMID 38709505.
  • Huang Y et al. 2022. The rates and factors of perceived insufficient milk supply: a systematic review. Matern Child Nutr. 2022;18(1):e13255. PMID 34382733.
  • Kent JC, Gardner H, Geddes DT. 2016. Breastmilk production in the first 4 weeks after birth of term infants. Nutrients. 2016;8(12):756. PMID 27897979.
  • Neifert M et al. 1990. The influence of breast surgery, breast appearance, and pregnancy-induced breast changes on lactation sufficiency as measured by infant weight gain. Birth. 1990;17(1):31–38. PMID 2288566.
  • Viera AJ. 1999. Breast-feeding with ectopic axillary breast tissue. Mayo Clin Proc. 1999;74(10):1021–1022. PMID 10918869.
  • Kulkarni D. 2020. Clinical presentations of breast disorders in pregnancy and lactation. Adv Exp Med Biol. 2020;1252:33–39. PMID 32816260.
  • Morton J et al. 2009. Combining hand techniques with electric pumping increases milk production in mothers of preterm infants. J Perinatol. 2009;29(11):757–764. PMID 19571815.
  • Paul IM et al. 2016. Weight change nomograms for the first month after birth. Pediatrics. 2016;138(6):e20162625. PMID 27940721.
  • Kellams A et al.; ABM. 2017. ABM Clinical Protocol #3: Supplementary feedings in the healthy term breastfed neonate, revised 2017. Breastfeed Med. 2017;12:188–198 (tr. 190–191). PMID 28294631.
  • Brodribb W; ABM. 2018. ABM Clinical Protocol #9: Use of galactogogues in initiating or augmenting maternal milk production, second revision 2018. Breastfeed Med. 2018;13(5):307–314 (tr. 311–312). PMID 29902083.
  • NICE. Postnatal care (NG194), khuyến nghị 1.5.2, 1.5.14, 1.5.16, 1.5.17 (truy cập 17/10/2026). https://www.nice.org.uk/guidance/ng194
  • NICE. Faltering growth (NG75), khuyến nghị 1.1.1–1.1.7 (truy cập 17/10/2026). https://www.nice.org.uk/guidance/ng75
  • Phó Thanh Chủ nữ khoa (bản dịch tiếng Việt), mục Khí huyết lưỡng hư, nhũ trấp bất hạ và mục Uất kết, nhũ trấp bất thông (tr. PDF 335–337, số in 338–340).
  • Hạ Quế Thành. Trung y phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), tiết Thiếu sữa sau sinh, sách tr. 473, 477–478.
  • Hạ Quế Thành. Sổ tay chẩn đoán điều trị phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), sách tr. 335, 338.
  • Sài Tùng Nham. Kinh nghiệm lâm sàng và nghiệm án (bản dịch tiếng Việt), chương Thiếu sữa sau sinh, sách tr. 168–170.
  • Hải Thượng Lãn Ông. Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, tập 1 (tr. PDF 890).

Đặt lịch khám cùng Đông y Tâm Đức

Để lại thông tin hoặc gọi trực tiếp 0345.22.33.19 – phòng khám sẽ liên hệ xác nhận lịch hẹn.

0345.22.33.19