Một chị đến phòng khám vì đau lưng ngang thắt lưng, ngửa người ra thì đau hơn. Chị đau từ sau lần sinh bé đầu, đến lúc ấy đã sáu, bảy năm. Hồ sơ lần khám ấy ghi thêm là chị có són tiểu, thỉnh thoảng thấy trằn nặng nhẹ ở bụng dưới, và mấy năm nay hay ngứa, ra khí hư. Khi sinh, chị có bị rách âm đạo.
Bác sĩ ghi lại những yếu tố có thể góp phần vào rối loạn vùng tiểu khung của chị, gồm vùng xương cùng, xương cụt, chuyện vệ sinh và vết rách khi sinh. Bác sĩ chưa vội nắn chỉnh lưng mà khuyên chị đi khám phụ khoa trước và giữ vệ sinh kỹ. Nếu sau đó lưng vẫn đau thì mới tính bước tiếp.
Chị đến vì cái lưng. Chuyện són tiểu nằm trong số các triệu chứng hồ sơ ghi thêm. Nhiều mẹ cũng ít khi tự nói về chuyện này.
Hay gặp, và hay bị giấu
Trong ba tháng đầu sau sinh, cứ khoảng ba mẹ thì có một mẹ bị són tiểu ở mức nào đó. Són hằng tuần thì khoảng 12 trong 100 mẹ (Thom và Rortveit 2010). Ở Na Uy, 31% mẹ sinh con đầu bị són lúc sáu tháng sau sinh (Wesnes 2009).
Hay gặp không có nghĩa là sẽ tự hết. Các mẹ ở Anh và New Zealand được theo dõi thì 24% còn són từ tháng thứ ba kéo tới năm thứ sáu sau sinh (MacArthur 2006). Trong số những mẹ còn són ở tháng thứ ba, khoảng bốn phần năm vẫn còn són sau 12 năm (Glazener 2014).
Một khảo sát 415 mẹ ở Hà Lan thấy hơn một nửa có són tiểu, nhưng chỉ khoảng một phần tư tìm đến nhân viên y tế (Moossdorff-Steinhauser 2021). NICE (Anh) nhắc rằng phụ nữ có thể ngại kể, nên dặn nhân viên y tế chủ động hỏi về sàn chậu ở mỗi lần khám sau sinh (NG210). Trong sách của Hạ Quế Thành, rối loạn tiểu tiện sau sinh được ghi là "khá thường gặp", kèm lời dặn nên chữa kịp thời, vì để lâu có thể kéo dài, ảnh hưởng tới cuộc sống của sản phụ (Hạ Quế Thành, tr. 462, 464).
Sàn chậu là gì, trằn nặng là gì
Sàn chậu là lớp cơ ở đáy khung chậu, đỡ bàng quang, tử cung, trực tràng từ bên dưới, có niệu đạo, âm đạo và hậu môn đi qua.
Trằn nặng là cảm giác nặng, tức ở bụng dưới hoặc trong âm đạo. NHS (Hệ thống Y tế Anh) xếp cảm giác này vào các triệu chứng của sa cơ quan vùng chậu, cùng với khối phồng ở âm đạo, đau hay tê khi quan hệ, tiểu không hết. Sa nhẹ không gây phiền thì có khi chưa cần điều trị.
Theo sách của Bø và cộng sự, khối phồng thấy hoặc sờ được mới gợi ý rõ có sa, còn cảm giác nặng liên quan yếu hơn nhiều (Bø, tr. 226). Trằn nặng vì thế là lý do để đi khám. Có sa hay không thì cần người khám mới biết, mẹ đừng tự kết luận.
Vì sao sau sinh dễ bị
Sách của Hạ Quế Thành giải thích són tiểu sau sinh là do đầu thai nhi đi xuống chèn ép, làm tổn thương cơ thắt bàng quang và thần kinh (Hạ Quế Thành, tr. 465). Siêu âm ở một nhóm nhỏ mẹ sinh thường con đầu thấy khoảng một phần ba bị tổn thương cơ nâng hậu môn, một cơ chính của sàn chậu (Dietz 2005). Sinh có forceps thì nguy cơ này cao hơn rõ (Friedman 2019).
NICE kể ra một số điều làm mẹ dễ gặp vấn đề sàn chậu hơn, như sinh có forceps hoặc giác hút, giai đoạn rặn dài hơn một giờ, rách tới cơ thắt hậu môn, sinh khi trên 30 tuổi, táo bón, ho kéo dài (NG210). Mẹ đã són khi mang thai thì khả năng còn són lúc sáu tháng sau sinh cao hơn khoảng 2,3 lần (Wesnes 2009). Có những điều này chưa chắc đã bị, chỉ là mẹ nên được hỏi han kỹ hơn.
Vết rách thông thường chưa chắc là thủ phạm. Một nghiên cứu hỏi lại các mẹ hai mươi năm sau một lần sinh, và thấy các mẹ từng rách độ 2 trở lên không bị sa có triệu chứng nhiều hơn các mẹ không rách (Gyhagen 2013). Nghiên cứu này nói về sa có triệu chứng sau hai mươi năm, không nói về són tiểu. Sinh mổ cũng không giúp tránh hẳn. Ở nhóm mẹ chỉ sinh mổ, vẫn có 14% bị són kéo dài (MacArthur 2006), và một tổng quan kết luận không thể khuyên sinh mổ để phòng són tiểu (Wesnes và Lose 2013).

Tập sàn chậu đúng cách
Co đúng gồm hai việc cùng lúc, siết quanh các lỗ ở đáy chậu và nâng vùng ấy lên, vào trong (Bø, tr. 111). Để tìm cơ, POGP, hội các nhà vật lý trị liệu sàn chậu và sản phụ khoa ở Anh, gợi ý mẹ nằm hoặc ngồi thoải mái, tưởng tượng đang nín xì hơi và nín tiểu cùng một lúc. Ngồi trên tay vịn ghế hay mép bàn cũng giúp dễ cảm nhận cơ hơn.
Trong lúc co, mẹ nhớ mấy điều mà POGP, NHS và sách của Kisner cùng dặn (Kisner, tr. 949):
- Thở đều, không nín thở, có thể đếm thành tiếng;
- Để mông và đùi thả lỏng;
- Bụng dưới hơi căng nhẹ là bình thường, nhưng không chủ động hóp bụng;
- Sau mỗi lần co, thả lỏng hẳn rồi mới co lần sau.
Lỗi hay gặp là rặn xuống thay vì kéo lên, nín thở, siết mông, khép chặt hai đùi, hóp bụng mạnh. Rặn xuống khi tập có thể làm sàn chậu yếu thêm (Bø, tr. 112).
Không co đúng ngay là chuyện thường. Khoảng một phần ba phụ nữ chưa co đúng ở lần đầu, kể cả khi đã được hướng dẫn kỹ (Bø, tr. 111). Cơ này nằm khuất, nhỏ, ít ai được dạy cách dùng, nên khó co không phải lỗi của mẹ. NICE khuyên người đang són được khám để xác nhận co đúng trước khi tập có giám sát (NG123).
POGP dặn đừng tập bằng cách ngắt dòng nước tiểu giữa chừng, và sách của Bø cũng không khuyên đưa việc này vào bài tập (Bø, tr. 114). "Như nín tiểu" chỉ là hình dung để tìm đúng cơ. Mẹ có thể tập ngay sau khi đã đi tiểu xong, lúc còn ngồi trên bồn cầu (NHS).
Có hai kiểu co, co giữ lâu (tối đa khoảng 10 giây) và co nhanh (co rồi thả ngay). Tăng dần tới khoảng 10 lần mỗi kiểu, ít nhất ba lần mỗi ngày (NHS; POGP). NICE đưa mức ít nhất 8 lần co, ba lần mỗi ngày, tập có người hướng dẫn ít nhất ba tháng (NG123).
Mẹ mới sinh, vết khâu còn đau, có thể bắt đầu ở tư thế nằm. Kisner dặn bắt đầu khi mẹ thấy làm được và đã được bác sĩ hay nữ hộ sinh cho phép, và gợi ý tập lúc cho bú, lúc thay tã (Kisner, tr. 951).
Phần lớn thấy đỡ sau 3–5 tháng tập đều, sau đó vẫn duy trì mỗi ngày (POGP).
Tập rồi có hết són không
Ở phụ nữ nói chung, phần đông ở tuổi trung niên, bằng chứng khá rõ. Gộp bốn thử nghiệm, 56% người tập tự thấy hết són khi gắng sức, so với 6% ở nhóm không tập (Dumoulin 2018). Cũng ở phụ nữ nói chung, tập có người hướng dẫn riêng, tập đều và đủ mức thì hiệu quả hơn (Todhunter-Brown 2022).
Riêng với mẹ đang són sau sinh, kết quả khiêm tốn hơn. Tổng quan Cochrane năm 2020 chưa thấy tập tạo ra khác biệt rõ ở 6–12 tháng sau sinh, với chất lượng bằng chứng còn thấp (Woodley 2020). Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, các mẹ còn són ba tháng sau sinh được điều dưỡng hướng dẫn tập, kèm tập bàng quang. Đến cuối năm đầu, 60% nhóm này còn són, so với 69% ở nhóm không được hướng dẫn (Glazener 2001), nhưng 12 năm sau hai nhóm không còn khác nhau (Glazener 2014).
Với chúng tôi, tập đúng là bước nên bắt đầu, và một phần các mẹ đỡ hơn. Có mẹ tập rồi vẫn chưa hết, và cái lợi chỉ giữ được khi mẹ còn tập. Đã tập đúng khoảng ba tháng mà chưa đỡ là lúc đi khám, không phải lúc tự trách mình.
Siết trước khi ho, hắt hơi, bế con lên
POGP gọi đây là "the Knack", tức là siết sàn chậu ngay trước khi ho, hắt hơi, cười lớn, cúi xuống hay bế con lên. Một nghiên cứu nhỏ ở 27 phụ nữ thấy sau một tuần học cách co trước khi ho, lượng nước tiểu rỉ ra khi ho giảm rõ (Miller 1998, dẫn trong Bø, tr. 30).
Sách Đông y nói gì
Rối loạn tiểu tiện sau sinh được sách của Hạ Quế Thành chia thành ba thể là khí hư, Thận hư và thấp nhiệt (Hạ Quế Thành, tr. 462–466). Khi giải thích thể Thận hư, sách dẫn lời Tiết Lập Trai "Sau sinh đái dầm là do Thận khí không vững". Hải Thượng Lãn Ông cũng chép chứng sau sinh són đái không nín được, cho "là thận khí không củng cố" (mục 36).
Sa sinh dục, sách Đông y gọi là "âm đĩnh", tả cảm giác nặng rõ lên khi đứng lâu, làm việc nặng, đỡ khi nằm nghỉ. Bệnh này, theo sách của Hạ Quế Thành, "phần nhiều xảy ra sau sinh", cũng gặp nhiều ở người cao tuổi, thể trạng yếu; sách dặn sản phụ không nên làm việc chân tay nặng quá sớm (Hạ Quế Thành, tr. 528–532).
Giáo trình châm cứu của Trung Quốc dặn người tiểu không tự chủ thường xuyên tập thót bụng, thót hậu môn. Với người sa tử cung, giáo trình dặn tập cơ nâng hậu môn, không ngồi xổm lâu, không gánh xách nặng (PDF 216, 266). Bàn về táo bón sau sinh, sách của Hạ Quế Thành cũng khuyên tập co thắt hậu môn vì cơ sàn chậu sau sinh lỏng lẻo (Hạ Quế Thành, tr. 472). Thót hậu môn gần với động tác "nín xì hơi" ở phần trên.
Trong thời gian đang thấy trằn nặng hay són tiểu và đang tập lại sàn chậu, mẹ nên tránh ngồi xổm thật lâu, mang vác nặng và rặn mạnh khi đi vệ sinh. Lời dặn này rút từ giáo trình châm cứu viết cho người sa tử cung và từ sách của Hạ Quế Thành; chưa có nghiên cứu nào xem riêng chuyện này ở mẹ sau sinh.
Điện châm có một thử nghiệm lớn ở 504 phụ nữ són khi gắng sức, tuổi trung bình 55. Sau sáu tuần, lượng nước tiểu rỉ ra giảm nhiều hơn nhóm châm giả (Liu 2017). Các chị trong thử nghiệm ấy không phải mẹ sau sinh, và nghiên cứu châm, cứu cho són sau sinh còn nhỏ, chất lượng thấp. Với mẹ sau sinh, chưa đủ bằng chứng để nói châm cứu giúp được bao nhiêu; nếu dùng thì đi cùng việc khám và tập đúng, không thay cho hai việc đó.
Khi nào báo phòng khám, khi nào đi khám ngay
Dựa theo hướng dẫn của NICE, NHS, POGP và sách Đông y, mẹ nên báo phòng khám, khám sản phụ khoa hoặc gặp chuyên viên vật lý trị liệu sàn chậu (chưa cần đi cấp cứu) khi:
- Són tiểu không đỡ sau khoảng ba tháng tập đều, đúng cách;
- Mẹ không chắc mình co đúng;
- Thấy hoặc sờ được khối phồng trong hay ra ngoài âm đạo;
- Trằn nặng kéo dài, nhất là khi đứng lâu hoặc làm việc nặng;
- Són phân, són hơi, khó làm sạch sau khi đi đại tiện;
- Đau, khó chịu hoặc tê khi quan hệ;
- Tiểu khó, tiểu không hết, phải rặn mới tiểu được;
- Từng rách tới cơ thắt hậu môn;
- Đau khi tập sàn chậu;
- Soi gương thấy vùng đáy chậu phồng ra khi co.
Mẹ nên đi khám ngay khi:
- Bí tiểu hoàn toàn, bụng dưới căng tức mà không tiểu được;
- Sốt kèm tiểu buốt, rát, hoặc đau hông lưng;
- Tiểu ra máu.
Những dấu hiệu khác sau sinh cần đi khám ngay đã có ở bài "Đông y cũng biết lúc phải dừng: những dấu hiệu sau sinh cần đi viện ngay".
Quay lại câu chuyện của chị
Khoảng tám tháng sau, chị quay lại vì khí hư kéo dài, được khám và điều trị theo Đông y. Sau ba lần khám trong chừng hai tuần, khí hư bớt nhiều, chỉ thỉnh thoảng còn ngứa. Hồ sơ không ghi lại chuyện són tiểu, trằn nặng ở những lần sau, nên chúng tôi không biết các triệu chứng ấy đã đỡ hay chưa.
Đau lưng đi kèm són tiểu ở nhiều nghiên cứu, nhưng chưa rõ cái nào gây ra cái nào. Phụ nữ hay són có khả năng hay đau lưng cao hơn khoảng 2,3–2,5 lần (Smith 2006). Viêm âm đạo do vi khuẩn thì chỉ thấy đi kèm kiểu són vì mót gấp, không đi kèm kiểu són khi gắng sức (Xie 2022). Bác sĩ chọn khám phụ khoa trước rồi mới tính nắn chỉnh vì đau lưng, són tiểu và viêm phụ khoa có thể dính vào nhau.
Chuyện đau lưng sau sinh có ở bài "Đau lưng sau sinh từ khớp chậu, từ cữ bú hay từ cái lưng cũ". Mẹ nào đang lo bụng chưa xẹp thì xem bài "Bụng sau sinh chưa xẹp: thử xem có phải tách cơ thẳng bụng". Trong một nghiên cứu, chương trình tập sau sinh (chủ yếu là tập sàn chậu) không làm khe giữa hai cơ bụng khép lại hơn (Gluppe 2018). Vì thế hai chuyện này cần được xem riêng.
Mang gì theo khi đi khám
Vài ngày trước khi đi khám, mẹ ghi nhật ký đi tiểu, gồm giờ mỗi lần đi tiểu, mỗi lần són thì đang làm gì (ho, hắt hơi, bế con, hay mót quá không kịp), và mình uống những gì.
Mẹ kể với bác sĩ cách sinh, có forceps, giác hút, có rách hay khâu không, đã són từ lúc mang thai chưa, đã tập gì và bao lâu, có khối phồng, són phân, đau khi quan hệ hay táo bón không.
Để lưu
- Són tiểu, trằn nặng sau sinh hay gặp, nhưng không phải chuyện đương nhiên;
- Co đúng là siết quanh các lỗ ở đáy chậu và nâng lên, vào trong, thở đều, thả lỏng hẳn sau mỗi lần co;
- Không tập bằng cách ngắt dòng nước tiểu;
- Siết sàn chậu trước khi ho, hắt hơi, bế con lên;
- Tập đúng khoảng ba tháng mà chưa đỡ thì đi khám;
- Thấy khối phồng ở âm đạo thì đi khám sản phụ khoa;
- Bí tiểu, sốt kèm tiểu buốt, tiểu ra máu thì đi khám ngay.
Nguồn tham khảo
- Thom DH, Rortveit G. Prevalence of postpartum urinary incontinence: a systematic review. Acta Obstet Gynecol Scand 2010;89:1511–22. PMID 21050146.
- Wesnes SL, Hunskaar S, Bø K, Rortveit G. The effect of urinary incontinence status during pregnancy and delivery mode on incontinence postpartum. A cohort study. BJOG 2009;116:700–7. PMID 19220234.
- MacArthur C, Glazener CMA, Wilson PD, et al. Persistent urinary incontinence and delivery mode history: a six-year longitudinal study. BJOG 2006;113:218–24. PMID 16412001.
- Glazener CMA, Herbison GP, MacArthur C, et al. Conservative management of persistent postnatal urinary and faecal incontinence: randomised controlled trial. BMJ 2001;323:593–6. PMID 11557703.
- Glazener CMA, MacArthur C, Hagen S, et al. Twelve-year follow-up of conservative management of postnatal urinary and faecal incontinence and prolapse outcomes: randomised controlled trial. BJOG 2014;121:112–20. PMID 24148807.
- Moossdorff-Steinhauser HFA, Berghmans BCM, Spaanderman MEA, et al. Urinary incontinence 6 weeks to 1 year post-partum: prevalence, experience of bother, beliefs, and help-seeking behavior. Int Urogynecol J 2021. PMID 33484286.
- NICE. Pelvic floor dysfunction: prevention and non-surgical management (NG210), 2021, khuyến cáo 1.1.7, 1.2.1 (Box 1), 1.3.12, 1.4.2, 1.5.3. https://www.nice.org.uk/guidance/ng210/chapter/Recommendations
- NICE. Urinary incontinence and pelvic organ prolapse in women: management (NG123), 2019, khuyến cáo 1.3.4, 1.4.4–1.4.5, 1.7.5–1.7.6. https://www.nice.org.uk/guidance/ng123/chapter/Recommendations
- NHS. Your post-pregnancy body (duyệt lại 20/07/2026). https://www.nhs.uk/baby/support-and-services/your-post-pregnancy-body/
- NHS. Pelvic organ prolapse (duyệt lại 03/07/2025). https://www.nhs.uk/conditions/pelvic-organ-prolapse/
- POGP (Pelvic, Obstetric and Gynaecological Physiotherapy). The Pelvic Floor Muscles – a Guide for Women, 2018. https://thepogp.co.uk/Resources/115/pelvic_floor_muscle_exercises_for_women
- Dietz HP, Lanzarone V. Levator trauma after vaginal delivery. Obstet Gynecol 2005;106:707–12. PMID 16199625.
- Friedman T, Eslick GD, Dietz HP. Delivery mode and the risk of levator muscle avulsion: a meta-analysis. Int Urogynecol J 2019. PMID 30649566.
- Gyhagen M, Bullarbo M, Nielsen TF, Milsom I. Prevalence and risk factors for pelvic organ prolapse 20 years after childbirth. BJOG 2013;120:152–60. PMID 23121158.
- Wesnes SL, Lose G. Preventing urinary incontinence during pregnancy and postpartum: a review. Int Urogynecol J 2013;24:889–99. PMID 23436034.
- Dumoulin C, Cacciari LP, Hay-Smith EJC. Pelvic floor muscle training versus no treatment, or inactive control treatments, for urinary incontinence in women. Cochrane Database Syst Rev 2018;10:CD005654. PMID 30288727.
- Woodley SJ, Lawrenson P, Boyle R, et al. Pelvic floor muscle training for preventing and treating urinary and faecal incontinence in antenatal and postnatal women. Cochrane Database Syst Rev 2020;5:CD007471. PMID 32378735.
- Todhunter-Brown A, Hazelton C, Campbell P, et al. Conservative interventions for treating urinary incontinence in women: an Overview of Cochrane systematic reviews. Cochrane Database Syst Rev 2022;9:CD012337. PMID 36053030.
- Smith MD, Russell A, Hodges PW. Disorders of breathing and continence have a stronger association with back pain than obesity and physical activity. Aust J Physiother 2006;52:11–6. PMID 16515418.
- Xie L, Yu Z, Gao F, et al. Associations between bacterial vaginosis and urgency urinary incontinence in women: an analysis of NHANES 2001 to 2004. Urology 2022;170:78–82. PMID 35964786.
- Liu Z, Liu Y, Xu H, et al. Effect of electroacupuncture on urinary leakage among women with stress urinary incontinence: a randomized clinical trial. JAMA 2017;317:2493–501. PMID 28655016.
- Gluppe SL, Hilde G, Tennfjord MK, Engh ME, Bø K. Effect of a postpartum training program on the prevalence of diastasis recti abdominis in postpartum primiparous women: a randomized controlled trial. Phys Ther 2018;98(4):260–8. PMID 29351646.
- Bø K, Berghmans B, Mørkved S, Van Kampen M (chủ biên). Evidence-Based Physical Therapy for the Pelvic Floor, 2nd ed. Elsevier, 2015, tr. 30, 111–112, 114–115, 226.
- Kisner C, Colby LA. Therapeutic Exercise: Foundations and Techniques, 6th ed. F.A. Davis, 2012, tr. 936, 949, 951.
- Whelan M. Trong: Chaitow L, Lovegrove Jones R (chủ biên). Chronic Pelvic Pain and Dysfunction: Practical Physical Medicine. Churchill Livingstone Elsevier, 2012, tr. 333.
- Hạ Quế Thành. Trung y phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), mục rối loạn tiểu tiện sau sinh (sách tr. 462–466), táo bón sau sinh (sách tr. 471–472), sa tử cung (sách tr. 528–532).
- Hải Thượng Lãn Ông. Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, tập 1, phần sản hậu, mục 36 (tr. PDF 889).
- 针灸治疗学 (giáo trình), mục 尿失禁 và 阴挺 (tr. PDF 216, 266).




