Hậu sản 07 – Táo bón sau sinh: đừng vội tìm thuốc xổ cho mát

·

Cập nhật

Táo bón sau sinh, đừng vội uống thuốc xổ, kèm chuyện trĩ và đau bụng khi cho bú - Đông y Tâm Đức

Đầu lưỡi đỏ, hai bên lưỡi phù, gốc lưỡi phủ một lớp rêu trắng dày. Ba ngày mới đi tiêu được một lần. Đó là mấy dòng bác sĩ ghi trong hồ sơ của một chị đến phòng khám vài tuần sau sinh. Lần ấy ngực chị còn sưng, sữa chưa ra hết, và chị kể dạo này mình hay cáu, chuyện nhỏ cũng dễ nổi giận.

Chị khám ở đây đã nhiều năm, cả trong lúc mang thai, và những lần trước bác sĩ đã ghi ở chị có cả phần âm hư lẫn phần hỏa vượng. Lưỡi đỏ, tính nóng, lại bón, nên người ta dễ kết luận ngay là "nóng trong" rồi quen tay tìm thứ gì xổ cho mát. Bác sĩ thì kê thuốc dưỡng huyết, nhuận tràng, kèm vài vị thanh nhiệt nhẹ và gỡ uất, không dùng thuốc xổ mạnh. Hồ sơ không ghi sau đợt thuốc chị đi tiêu ra sao, nên bài này chỉ kể vì sao bác sĩ chọn hướng ấy.

Mấy ngày đầu chưa đi cầu

Táo bón rất hay gặp ngay sau sinh. Một khảo sát ở Phần Lan thấy vài ngày sau sinh, khoảng một nửa số mẹ bị táo bón, mẹ sinh mổ bị nhiều hơn mẹ sinh thường. Tới một tháng thì ít hẳn, còn chừng một trên mười mẹ sinh thường, nhích hơn một chút ở mẹ sinh mổ (Kuronen 2021).

Lần đi cầu đầu tiên cũng thường đến muộn. Trong một nhóm 101 mẹ ở Mỹ, mẹ sinh thường trung bình chừng một ngày rưỡi mới đi cầu lần đầu, mẹ sinh mổ hơn ba ngày (Graziano 2014). Trang thông tin của Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) cũng coi vài ngày đầu chưa đi cầu là chuyện thường. Chúng tôi cũng chưa tìm thấy mốc nào được thống nhất kiểu "quá bao nhiêu ngày thì thành bệnh".

Sách Đông y nhìn chuyện này khá điềm tĩnh. Thầy Hạ Quế Thành ghi rằng mẹ chỉ mỏi mệt, vẫn ăn uống được, bụng không đau mà phân bí thì vài ngày sau có thể tự đỡ, chưa coi là bệnh. Sách Phụ nhân lương phương, được Phó Thanh Chủ dẫn lại, dặn gần như vậy. Mới sinh mà bí, ăn uống vẫn như thường, trong bụng không sao, thì "cứ thong thả chờ xem", chỉ cho thuốc bổ.

Có vài thứ làm táo bón nặng thêm. Viên sắt uống là một, và tổng quan Cochrane thấy sắt uống nhiều khả năng gây táo bón nhiều hơn hẳn sắt truyền (Jensen 2024). Dù vậy mẹ đừng tự bỏ sắt, cứ báo bác sĩ đã kê để được đổi cách uống hay đổi loại. Thuốc giảm đau nhóm opioid, như loại có codein, cũng có thể gây bón; trong một thử nghiệm kể ở phần dưới, codein được dùng chính để giữ phân lại (Mahony 2004). Mà codein vốn không dùng khi đang cho bú. Mẹ từng táo bón từ trước hoặc trong lúc mang thai thì dễ bị lại sau sinh (van Brummen 2006; Bradley 2007).

Nhiều mẹ kể với bác sĩ là sợ đau khi đi cầu, mẹ có vết khâu thì sợ cả "bung chỉ". Cochrane cũng ghi nhận đau khi đi cầu là một mối lo của mẹ, nhất là khi có khâu tầng sinh môn hay bị trĩ (Turawa 2020).

Ruột khô vì mất huyết

Thầy Hạ Quế Thành ví táo bón sau sinh như cảnh "sông không có nước thì thuyền không đi được". Cuộc sinh làm mẹ mất huyết, ra nhiều mồ hôi, hao tân dịch. Đường ruột không còn chất nhuận nên phân khô, đi không trôi. Thầy kể thêm hai kiểu người. Người vốn âm hư thì cái nóng từ bên trong lại đốt bớt phần dịch còn lại, còn người vốn khí hư thì không đủ sức đẩy.

Ý này có từ rất sớm. Trong Kim Quỹ yếu lược, Trương Trọng Cảnh kể ba bệnh của người mới sinh, một trong ba là đại tiện khó, và ông giải thích là do mất tân dịch nên Vị khô. Ông không nhắc gì đến nóng.

Từ đó thầy Hạ dặn cách chữa, lấy dưỡng huyết nhuận tràng làm chính, "không nên tùy tiện dùng thuốc đắng lạnh thông hạ, để tránh chỉ làm tổn thương trung khí". Sách Phó Thanh Chủ và sách Hải Thượng Lãn Ông cũng đi theo hướng bồi huyết, Hải Thượng gói trong mấy chữ "điều trung dưỡng huyết", còn Phó Thanh Chủ viết người mất máu nhiều, máu khô mà đại tiện táo kết thì phải bổ huyết, không đem bài thuốc xổ ra dùng. Ở mục bàn về người sau sinh mắc bệnh sốt, Phó Thanh Chủ dặn dù có bón, có khát cũng nên bổ huyết, sinh tân dịch; cho đó là nóng mà dùng thuốc lạnh là lầm. Đây là kinh nghiệm ghi trong sách, chưa có thử nghiệm so dưỡng huyết nhuận tràng với thuốc xổ ở mẹ sau sinh.

Có mẹ phân không khô mà vẫn khó đi, vì người mệt, rặn không có sức. Sách thầy Hạ có ghi trường hợp này. Thầy Nguyễn Hữu Đức, trong tập bài giảng về các bài thuốc Nam, xếp táo bón sau sinh vào nhóm triệu chứng do mất sức khi sinh, khí không đủ, và chữa bằng bài bổ khí gia thêm vị bổ tỳ nhuận táo. Ở những tập khác, thầy thêm vị bổ huyết khi mẹ táo bón, bón nặng thì tăng vị ấy lên. Trong những trang chúng tôi đọc, thầy bổ khí, bổ huyết, chưa thấy cho xổ.

Đông y có lúc cho xổ

Đông y vẫn có lúc cho xổ. Kim Quỹ có hai chỗ dùng bài xổ mạnh cho người sau sinh, chẳng hạn khi bụng dưới cứng đau, nhiều ngày không đi tiêu, lại sốt, bứt rứt. Sách thầy Hạ và giáo trình Nội khoa Trung Quốc đều viết khi đúng là thực chứng thì không nên do dự, nhưng trúng bệnh là dừng. Mẹ có ở thể ấy hay không, dùng bao nhiêu, dừng lúc nào, là việc thầy thuốc quyết sau khi khám. Giáo trình Phương tễ học thì xếp sản phụ vào nhóm nên thận trọng hoặc không dùng thuốc xổ.

Thầy Nguyễn Hữu Đức có kể chuyện một ông cụ lớn tuổi, không liên quan tới sinh nở. Ông sắc cả rổ lá muồng trâu uống để "xổ nhiệt độc", xổ nhiều tới mức phải đi cấp cứu, truyền dịch. Về nhà ông vẫn chưa đi cầu được, còn hỏi thầy có nên uống thêm muồng. Thầy cho thuốc bổ âm.

Trà xổ, trà "thải độc", lá xổ bán theo gói rất dễ mua. Những gói ấy có thể chứa lá phan tả diệp, tức lá senna, nên mẹ cần đọc kỹ thành phần. Trong thử nghiệm ở mẹ sau sinh, senna giúp đi cầu sớm hơn, nhưng nhóm uống senna bị đau quặn bụng nhiều hơn hẳn (Turawa 2020). Mẹ sau sinh đừng tự mua trà xổ, lá xổ hay thuốc xổ "cho mát".

Khi phân quá cứng, bác sĩ có thể kê thuốc làm mềm phân. Macrogol (PEG) và lactulose gần như không thấm vào máu, và cơ sở dữ liệu thuốc khi cho bú LactMed ghi mẹ cho bú dùng được, không cần dè chừng gì riêng. Thử nghiệm của Mahony làm ở mẹ bị rách tầng sinh môn sâu tới cơ thắt hậu môn, đã được khâu. Một nhóm uống lactulose cho phân mềm, nhóm kia dùng codein để giữ phân lại. Nhóm lactulose đi cầu lần đầu sớm hơn và đỡ đau hơn (Mahony 2004). Mẹ dùng theo chỉ định của bác sĩ.

Đơn của chị và lý do

Ở chị, phần nóng là có thật, thấy ở đầu lưỡi đỏ và tính hay cáu. Pháp trị bác sĩ ghi là sơ Can, thanh hỏa uất, kiện Tỳ, dưỡng huyết. Đơn thuốc chủ yếu là các vị dưỡng huyết, nhuận tràng, trong đó có vị hạt có dầu giúp nhuận, thêm vài vị thanh nhiệt nhẹ và kiện Tỳ. Ý của đơn là làm dịu phần nóng và bù chỗ thiếu; trong đơn không có vị xổ mạnh nào. Bác sĩ hẹn sau một thang xem sữa có xuống dễ hơn không, sau sáu thang thì xem lại chuyện đi tiêu.

Thầy Hạ mô tả sau sinh, bón, đau và nóng nảy hay kéo nhau theo, và tả cái vòng ấy khá kỹ. Phân khô thì phải rặn, rặn nhiều thì ra mồ hôi, hậu môn nứt và đau. Đau thì sợ đi, phân nằm lâu trong ruột bị hút thêm nước nên càng cứng. Người bệnh sợ hãi, lo âu, nóng vội, khí cơ uất kết lại, càng khó đi.

Tóm tắt: táo bón sau sinh, Đông y bồi khí huyết nhuận tràng, không tự mua trà xổ - Đông y Tâm Đức

Mẹ làm được gì ở nhà

Thầy Hạ có những lời dặn rất đời thường. An ủi cho mẹ bớt lo, uống nhiều nước, tập đi cầu vào giờ cố định, không buồn đi cũng vào nhà vệ sinh ngồi một lúc. Thầy còn nhắc rằng ăn ít đi cho đỡ phải đi cầu thì "chẳng giải quyết được gì". Mẹ có thể bắt đầu từ mấy việc sau:

  • Để sẵn bình nước chỗ hay ngồi cho bé bú, mỗi cữ uống thêm vài ngụm;
  • Ăn rau nấu chín và trái cây mỗi ngày;
  • Đi lại nhẹ trong nhà khi bác sĩ cho phép, xen với lúc nằm nghỉ;
  • Buồn đi thì đi ngay, đừng nín vì ngại hay vì đang dở việc;
  • Kê chân lên một chiếc ghế thấp khi ngồi bồn cầu, cho đầu gối cao hơn hông, người hơi nghiêng về trước;
  • Thở đều, thả lỏng, đừng rặn mạnh hay ngồi quá lâu;
  • Báo bác sĩ khi đang uống sắt hay thuốc giảm đau mà bón nặng thêm, đừng tự bỏ thuốc.

Kê chân là việc ít rủi ro. Ở người khỏe, tư thế này giúp đi cầu đỡ phải rặn. Ở mẹ sau sinh thì chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào, nhưng Hội Sản Phụ khoa Hoàng gia Anh (RCOG) vẫn khuyên cách ngồi này cho mẹ bị rách tầng sinh môn sâu.

Trĩ

Trĩ và nứt hậu môn hay đi cùng táo bón. Ở Pháp, các bác sĩ khám hậu môn cho 165 mẹ và thấy khoảng một phần ba bị trĩ ngoại tắc mạch hoặc nứt hậu môn trong hai tháng sau sinh. Phần lớn ca trĩ tắc mạch xuất hiện ngay ngày đầu, và yếu tố đi kèm rõ nhất là đi cầu khó, đau (Abramowitz 2002). Ở Litva, táo bón, rặn lâu, con nặng cân và tiền sử trĩ là những yếu tố liên quan (Poskus 2014).

Sách Đông y giải thích trĩ lúc mang thai và sau sinh là do máu dồn ứ ở vùng chậu, cộng thêm lúc rặn khi sinh (Maciocia). Giáo trình Châm cứu trị liệu kể thai sản trong các nguyên nhân gây trĩ, với hai thể chính là thấp nhiệt dồn xuống và khí hư không nâng lên được. Sách Hải Thượng chép lời Tiết Lập Trai rằng trĩ mà đại tiện táo bón thì nhuận táo dưỡng huyết.

Ngồi ngâm chậu nước ấm sạch được khuyên ở nhiều nơi, dù dữ liệu khoa học còn ít (Qureshi 2026). Mẹ hỏi bác sĩ trước, pha nước vừa ấm, thử bằng mu bàn tay rồi mới ngồi để khỏi bỏng vùng da đang đau. Thầy Hạ tách bạch hai chuyện: thời kỳ hậu sản không tắm bồn, còn ngồi ngâm chậu thì sách vẫn dùng. Đừng tự nấu lá thuốc truyền miệng để xông hay ngâm. Mã đâu linh, một vị từng được dùng xông rửa trĩ, chứa acid aristolochic có thể hại thận, và giáo trình Trung dược học ghi phụ nữ có thai, trẻ nhỏ không dùng. Mẹ không dùng vị này.

Mẹ nên đi khám ở phòng khám tổng hợp hoặc bệnh viện khi:

  • Ở hậu môn có một khối cứng, tím, đau dữ dội;
  • Chảy máu nhiều hoặc máu ra mãi không ngừng;
  • Lần nào đi cầu cũng đau rát như dao cắt, kéo dài nhiều ngày;
  • Không nhịn được hơi, hoặc phân bị són ra.

Đau bụng mỗi lần cho bú

Mấy ngày đầu, nhiều mẹ thấy bụng dưới quặn lên mỗi lần bé bú, giống đau bụng kinh, vì tử cung đang co lại. Một nhóm nghiên cứu ở Anh theo dõi 50 mẹ vừa sinh thường thấy gần như ai cũng đau khi cho bú; đo bằng máy thì người đã sinh nhiều lần đau hơn, cơn co tử cung cũng dài hơn (Holdcroft 2003). Cơn đau này thường hết sau vài ngày, khoảng hai đến bốn ngày (Deussen 2020). Sách Đông y gọi là "nhi chẩm thống", và thầy Hạ cũng coi hơi đau bụng dưới sau sinh là phản ứng thường gặp, đau tăng khi cho con bú, hay gặp ở người sinh nhiều lần, vài ngày tự hết. Trương Cảnh Nhạc dặn đau mà không chướng, thích xoa, thích chườm ấm, ăn vào thì dịu là đau do hư, "không được dùng bừa các thuốc đẩy đuổi"; sách thầy Hạ còn ghi thể huyết hư của đau bụng sau sinh có táo bón đi kèm. Trong các thuốc giảm đau đã được thử cho cơn đau này, nhóm kháng viêm như ibuprofen có bằng chứng tốt nhất, còn với paracetamol thì kết quả chưa chắc (Deussen 2020). Cả hai đều dùng được khi cho bú (LactMed), mẹ uống theo bác sĩ dặn. Đau tăng dần thay vì bớt, bụng không cho ấn, kèm sốt, rét run hay sản dịch có mùi hôi thì đi khám ngay; các dấu hiệu nguy hiểm khác có ở bài 02.

Khi nào mẹ nên ghé phòng khám

Phòng khám khuyên mẹ ghé khám khi đã qua tuần đầu sau sinh mà vẫn vài ngày mới đi tiêu một lần. Lúc khám, mẹ kể luôn chuyện ngủ, chuyện sữa, dạo này có hay mệt, hay cáu không. Mẹ cũng nên ghé nếu đi xong thấy rát hay ra máu, hoặc đã lỡ uống trà xổ rồi bụng quặn, người lả đi.

Nguồn tham khảo

  • Kuronen et al. 2021. BJOG. 2021;128:1057–1064. PMID 33030260.
  • Graziano et al. 2014. Arch Gynecol Obstet. 2014;289:23–27. PMID 23764932.
  • Jensen et al. 2024. Cochrane Database Syst Rev. 2024;12:CD010861. PMID 39670550.
  • van Brummen et al. 2006. Int Urogynecol J. 2006;17:224–230. PMID 16077997.
  • Bradley et al. 2007. Obstet Gynecol. 2007;110:1351–1357. PMID 18055731.
  • Turawa et al. 2020. Cochrane Database Syst Rev. 2020;8:CD011625. PMID 32761813.
  • Mahony et al. 2004. Dis Colon Rectum. 2004;47:12–17. PMID 14719145.
  • Abramowitz et al. 2002. Dis Colon Rectum. 2002;45:650–655. PMID 12004215.
  • Poskus et al. 2014. BJOG. 2014;121:1666–1671. PMID 24810254.
  • Qureshi et al. 2026. AGA Clinical Practice Update on Diagnosis and Treatment of Hemorrhoids. Clin Gastroenterol Hepatol. 2026;24:1773–1781. PMID 42067175.
  • Holdcroft et al. 2003. Pain. 2003;104:589–596. PMID 12927631.
  • Deussen et al. 2020. Cochrane Database Syst Rev. 2020;10:CD004908. PMID 33078388.
  • LactMed (Drugs and Lactation Database). Bethesda (MD): NICHD; 2006–. Các mục: Polyethylene Glycol (PMID 30694626), Lactulose (PMID 40986680), Senna (PMID 30000408), Ibuprofen (PMID 30000045), Acetaminophen (PMID 30000253).
  • NHS. Your body after the birth. Xem lại 25/04/2024. https://www.nhs.uk/pregnancy/labour-and-birth/your-body/
  • RCOG. Care of a third- or fourth-degree tear that occurred during childbirth (OASI). Patient information, 10/2019.
  • Trương Trọng Cảnh. Kim Quỹ yếu lược (金匮要略), thiên Phụ nhân sản hậu bệnh mạch chứng trị (tr. PDF 50–51).
  • Hạ Quế Thành. Trung y phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), sách tr. 439–442, 455, 464, 470–472.
  • Phó Thanh Chủ nữ khoa (bản dịch tiếng Việt), phần Sản hậu (tr. PDF 345, 360–362, 386).
  • Hải Thượng Lãn Ông. Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, tập 1 (tr. PDF 640, 888).
  • 中医内科学 (giáo trình), mục táo bón sau sinh (tr. PDF 281).
  • 方剂学 (giáo trình), mở đầu chương Tả hạ (tr. PDF 85).
  • 针灸治疗学 (giáo trình 13.5), mục trĩ (tr. PDF 318–320).
  • Chung Cám Sinh (chủ biên). 中药学 (giáo trình 13.5) (tr. PDF 570–571).
  • Maciocia G. Obstetrics and Gynecology in Chinese Medicine, ch.50 (Constipation and Haemorrhoids after Childbirth).
  • Nguyễn Hữu Đức. Các bài thuốc Nam gốc (2017), tr. 22; Cổ phương (2017), tr. 93; Chuyện kể Đông Y, quyển 8, tr. 78; Toa căn bản (2022), tr. 77–78.

Đặt lịch khám cùng Đông y Tâm Đức

Để lại thông tin hoặc gọi trực tiếp 0345.22.33.19 – phòng khám sẽ liên hệ xác nhận lịch hẹn.

0345.22.33.19