Một chị đến phòng khám vì cứ ngồi liền chừng một tiếng là thắt lưng lại mỏi âm ỉ. Cái mỏi ấy có từ lần sinh trước. Lần đó chị vỡ ối, bác sĩ chỉ định mổ, chị được gây tê tuỷ sống. Từ sau sinh, chị thấy mình đi lại người lệch về một bên, ngồi thì một vai cao hơn vai kia.
Lúc khám, bác sĩ thấy khung chậu lệch, vài cơ quanh chậu và hông một bên yếu. Vết sẹo mổ cũng còn đau khi ấn, sờ vào thấy vướng, kéo không êm. Hỏi tới cuộc mổ, chị nhớ rõ mũi gây tê hôm ấy rất đau, chị sợ, và mấy giờ nằm phòng hậu phẫu chị căng thẳng ra sao.
Chị được điều trị nhiều vấn đề cùng lúc: chỉnh chậu, chỉnh cột sống, xử lý vùng sẹo, gỡ phần cảm xúc còn đọng lại quanh cuộc mổ, kèm uống bổ sung khoáng chất. Chị khám bốn lần, lần sau cách lần trước chừng mười ngày rồi một tuần. Lần thứ hai chị thấy giảm mỏi khoảng 30%. Lần thứ ba, chị tự đánh giá mức độ đau thắt lưng từ 80% còn khoảng 20%. Tới lần thứ tư chị kể thắt lưng không còn đau. Dáng vai thì vẫn lệch, chị được dặn bài tập về nhà. Hồ sơ chưa có theo dõi lâu hơn.
Điều trị nhiều vấn đề cùng lúc thì không tách được phần nào là nhờ xử lý sẹo. Sẹo chỉ là một trong những chỗ bác sĩ tìm ra.
Đau ở vết mổ kéo dài gặp nhiều tới đâu
Phần lớn mẹ hết đau vết mổ sau vài tuần, có mẹ thì không. Gộp các nghiên cứu lại, cứ khoảng sáu, bảy mẹ sinh mổ thì có một mẹ vẫn còn đau ở vết mổ hoặc vùng bụng quanh đó khi đã ba tháng (Ciechanowicz 2025; Wang 2025). Đến một năm, con số còn khoảng 5 đến 9 trên 100 mẹ, phần lớn đau nhẹ đến vừa.
Hai phân tích gộp cho số khá vênh nhau, các nghiên cứu bên trong mỗi nơi một kiểu, nên các tác giả xếp độ chắc chắn ở mức rất thấp. Mốc ba tháng là mốc các nhà nghiên cứu dùng để gọi là đau kéo dài. Mẹ mới mổ chưa tới ba tháng mà đau nhiều thì vẫn nên đi khám.
Mẹ đau nhiều trong một, hai ngày đầu sau mổ dễ còn đau về sau hơn (Jin 2016; Eisenach 2008). Mẹ có trầm cảm từ trước, hay quen nghĩ về cơn đau theo hướng tệ nhất, cũng vậy (Jin 2016; Espinós Ramírez 2026). Đây mới là mối liên quan, chưa chứng minh được cái nào gây ra cái nào. Dù vậy, mấy ngày đầu mẹ nên dùng thuốc giảm đau cho đủ, đừng cố chịu.
Dưới vết sẹo có thể có gì
Y văn gọi tên được vài nguyên do, mỗi cái chỉ giải thích được một phần các ca.
Đường mổ ngang bụng dưới đi gần các nhánh thần kinh chạy xuống vùng bẹn. Loos và cộng sự (2008) hỏi lại 690 phụ nữ từng mổ theo đường này, gồm cả người mổ lấy thai lẫn người cắt tử cung. Hai năm sau, khoảng một phần ba trong số họ còn đau ở sẹo. Trong 32 người đau vừa đến nặng được khám kỹ, 17 người có dây thần kinh bị kẹt ở đầu sẹo. Người bị tê quanh sẹo dễ đau về sau hơn. Đau kiểu này có cách chẩn đoán và điều trị riêng, nên mẹ cần được khám.
Chuyện tê quanh sẹo thì hay gặp, vì khi rạch, các nhánh thần kinh nhỏ ngoài da bị cắt (Huikeshoven 1998). Sau mổ lấy thai bao lâu thì hết tê, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào đo.
Hiếm hơn là lạc nội mạc tử cung ở sẹo. Mô niêm mạc tử cung nằm lại ở vết mổ thành một cục nhỏ, đến kỳ kinh thì to lên và đau. Phần lớn người bị có tiền sử mổ lấy thai, và bệnh hay được phát hiện muộn (Gruber 2024). Thầy Hạ Quế Thành cũng tả trong sách: sờ thấy nhân ở vết mổ thành bụng, trong kỳ kinh khối to lên, ấn đau rõ.
Phần sẹo trên thành tử cung đôi khi lành không đầy, để lại một chỗ khuyết. Siêu âm kỹ ở người từng mổ thấy chỗ khuyết này khá thường, và dấu hay gặp nhất là ra huyết rỉ, lấm tấm vài ngày sau khi đã sạch kinh (Bij de Vaate 2014). Nó có liên quan tới đau vùng chậu hay không thì còn cần nghiên cứu thêm (Tulandi 2016).
Mũi gây tê có làm đau lưng về sau
Chị ở đầu bài nhớ mũi tê hôm ấy rất đau, và dễ ngờ nó dẫn đến đau thắt lưng. Các thử nghiệm hiện có lại làm trên giảm đau ngoài màng cứng khi chuyển dạ. Tổng quan Cochrane năm 2018 gộp hai thử nghiệm với 814 mẹ, không thấy mẹ được gây tê bị đau lưng lâu dài nhiều hơn mẹ không gây tê (Anim-Somuah 2018). Howell (2002) phỏng vấn lại các mẹ trong một thử nghiệm ở Anh, trung bình hơn hai năm sau sinh, cũng thấy như vậy. Ở cả hai nhóm, gần một phần ba mẹ có đau lưng trong tuần trước buổi phỏng vấn.
Dữ liệu về giảm đau chuyển dạ không cho thấy mũi tê gây đau lưng lâu dài. Với mổ lấy thai thì chưa có thử nghiệm riêng, vì vậy lưng đau kéo dài hàng tháng thì ngoài mũi tê còn phải tìm ở tư thế, cơ, khung chậu, vết sẹo. Chỗ chọc kim ê ẩm vài ngày đầu sau mổ là chuyện khác.
Nỗi sợ quanh cuộc mổ có thật và nên được nói ra. Hướng dẫn về sinh mổ của Viện Y tế và Chăm sóc Xuất sắc Quốc gia Anh (NICE) cũng dặn mẹ phải mổ ngoài kế hoạch nên được dịp hỏi nhân viên y tế vì sao mình phải mổ, hoặc hỏi vào lúc khác nếu mẹ muốn.
Cơn đau kéo dài hàng tháng ít khi đứng một mình. Có mẹ trở mình ban đêm là nhói nên ngủ không sâu, ngại bế con lâu, ban ngày mệt, hay quên, dễ cáu với người nhà. Những chuyện ấy cũng là một phần của bệnh, không riêng gì cái đau.
Sách Đông y và Kinesiology ứng dụng nhìn vết sẹo ra sao
Sách Đông y không có mục riêng cho sẹo mổ lấy thai, nên những gì dưới đây là bác sĩ phòng khám ghép từ các nguyên lý chung. Trong Sổ tay chẩn đoán điều trị phụ khoa, ở đoạn mở chương bệnh sau sinh, thầy Hạ Quế Thành kể cả "tổn thương do phẫu thuật" trong các nguyên nhân gây ứ sau sinh. Đoạn ấy bàn chuyện đau sau sinh, không bàn về sẹo. Quy trình kỹ thuật châm cứu của Bộ Y tế (Quyết định 792/QĐ-BYT) giải thích đau sau phẫu thuật là do khí huyết không điều hoà, mạch lạc bị ngăn trở, hoặc do khí huyết thiếu, mạch lạc không được nuôi.
Giáo trình Nội khoa Đông y có câu "cửu bệnh nhập lạc, cửu thống nhập lạc", ý là bệnh lâu, đau lâu thì đi vào lạc, nên dùng phép hoạt huyết thông lạc. Gốc của ý này là Diệp Thiên Sĩ đời Thanh, khi ông bàn về chứng tý lâu ngày. Bác sĩ phòng khám đem nguyên lý ấy áp vào vết sẹo đã đau nhiều tháng.
Một số sách châm cứu hiện đại có mục châm quanh sẹo, hướng kim về phía sẹo nhưng cắm vào mô lành. Tổng quan của Chmielewska (2024) chỉ tìm được 11 nghiên cứu về châm cho sẹo, phần lớn là báo cáo từng ca. QĐ 792 dặn không châm vào vùng đang viêm hoặc lở loét, và cơn đau nghi do nguyên nhân ngoại khoa thì phải khám trước.
Kinesiology ứng dụng (Applied Kinesiology, AK) xem vết sẹo như một chỗ có thể gây nhiễu. Ở vùng từng bị tổn thương, các thụ thể cảm giác và thụ thể đau có thể vẫn phát tín hiệu bất thường, khiến cơ thể giữ một kiểu tư thế, kiểu vận động lệch (Garten, dựa trên Schmitt 1990). Sách AK cũng dặn chỉ xử lý thẳng vào sẹo khi chắc chắn không còn viêm.
Bằng chứng cho cách nhìn này mới dừng ở báo cáo ca và loạt ca. Trong một loạt 21 người són tiểu được chữa theo AK, 13 người mang sẹo do thai kỳ, mổ lấy thai hoặc mổ ruột thừa. Họ được nắn chỉnh và xử lý mô mềm cùng lúc, nên không tách được phần nào nhờ sẹo (Cuthbert 2012). Thử nghiệm có nhóm đối chứng thì chưa có.

Tự chăm vết sẹo ở nhà
Mọi cách chăm dưới đây chỉ bắt đầu khi vết mổ đã kín hẳn, khô, không đỏ, không chảy dịch, và bác sĩ đã mổ cho mẹ đồng ý. Vết mổ còn hở hay đang viêm thì không xoa, không châm, không dán gì lên.
Miếng dán hoặc gel silicone là cách tự chăm sẹo được nghiên cứu nhiều nhất. Tổng quan Cochrane thấy silicone có thể giúp phòng sẹo dày, sẹo lồi ở người dễ lên sẹo, nhưng bằng chứng yếu và các nghiên cứu dễ sai lệch (O’Brien 2013). Trên sẹo mổ lấy thai, silicone chỉ hơn băng giấy một chút về hình thức sẹo do mẹ tự đánh giá, chênh nhỏ tới mức các tác giả cho là không có ý nghĩa lâm sàng (Lin 2020). Trong một nhóm mẹ dán silicone từ tháng thứ hai sau mổ, gần một nửa bị ngứa (Ito 2021). Các nghiên cứu này chấm hình dạng sẹo và ghi tác dụng phụ; silicone có làm bớt đau ở sẹo hay không thì chưa thấy số liệu.
Người châu Á dễ lên sẹo dày, sẹo lồi hơn người da trắng (Tulandi 2011; Sugita 2025). Mẹ nào từng có sẹo lồi ở chỗ khác có thể hỏi bác sĩ về silicone sớm.
Xoa sẹo được khuyên ở nhiều nơi. Shin (2012) tổng quan 10 nghiên cứu và thấy bằng chứng còn yếu, mỗi nơi xoa một kiểu, có nơi bắt đầu ngay sau cắt chỉ, có nơi sau hơn hai năm. Nên bắt đầu xoa từ tuần thứ mấy sau mổ lấy thai thì chúng tôi chưa tìm thấy thử nghiệm nào. Ở Pháp, một nhóm nghiên cứu ghi rằng tự xoa sẹo là cách duy nhất đang được khuyên cho mẹ còn đau ở sẹo, và họ đang làm thử nghiệm để kiểm chứng (Grampayre 2025). Khi bác sĩ đã cho phép, mẹ xoa nhẹ bằng đầu ngón tay quanh và dọc theo sẹo. Xoa mà đau tăng thì dừng.
Chỗ da tê quanh sẹo cảm nhận nóng kém, dễ bỏng mà không hay. Vì vậy đừng đắp túi chườm nóng, chườm muối rang, hơ hay cứu ngải sát lên vùng da ấy. QĐ 792 dặn không cứu ở vùng mất cảm giác vì dễ gây bỏng, và da tê quanh sẹo cũng nên tính như vậy.
Cho con bú khi còn vết mổ
NICE khuyên tạo điều kiện cho mẹ sinh mổ được da kề da với bé sớm, và giúp mẹ cho bú càng sớm càng tốt.
Trang thông tin của Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) gợi ý mấy tư thế bú đỡ chạm vào vết mổ:
- Bế kẹp nách, còn gọi là ôm bóng bầu dục: bé nằm dọc theo hông mẹ, chân duỗi về phía sau lưng mẹ, tay mẹ đỡ gáy bé, kiểu này không đè lên bụng và vết sẹo;
- Nằm nghiêng: mẹ và bé nằm nghiêng quay mặt vào nhau, bụng bé áp vào người mẹ, tiện cho những cữ bú đêm;
- Bế ngang trước bụng thì bé nằm vắt qua gần vết mổ nên dễ đau. Muốn bế kiểu này, mẹ đặt một chiếc gối che lên vết mổ rồi để bé nằm trên gối.
Các tư thế này chưa được đem ra so sánh trong thử nghiệm nào, đó là lời khuyên từ thực hành. Kê thêm gối sau lưng và dưới tay đỡ bé thường giúp mẹ ngồi lâu đỡ mỏi.
Mẹ cho bú vẫn thường dùng được thuốc giảm đau sau mổ. NICE khuyên phối hợp paracetamol với một thuốc kháng viêm như ibuprofen, uống đều theo giờ bác sĩ dặn. Hiệp hội Y khoa Nuôi con bằng sữa mẹ (ABM) ghi nhận khi cơn đau của mẹ được kiểm soát tốt, việc cho bú cũng thuận hơn (Martin 2018).
Thuốc có codein thì không dùng khi đang cho bú, vì có thể làm bé ngủ li bì, thở yếu. NICE, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA, 2017) và Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA, 2013) đều khuyên như vậy. Tramadol thì FDA khuyên tránh khi cho bú, mẹ hỏi bác sĩ. Codein có thể nằm sẵn trong thuốc ho, thuốc giảm đau phối hợp, nên trước khi mua mẹ đọc kỹ thành phần trên hộp hoặc hỏi dược sĩ. Khi đau nhiều cần thuốc mạnh hơn, bác sĩ sẽ cân nhắc và chỉ cho dùng ngắn ngày. Mẹ về nhà còn uống thuốc giảm đau nhóm opioid bác sĩ kê thì để ý bé có lơ mơ, khó thở, bú kém hay táo bón không, thấy thì báo bác sĩ ngay.
Mấy ngày đầu, lượng sữa bé nhận được ở mẹ sinh mổ có thể ít hơn mẹ sinh thường, đến khoảng ngày thứ sáu thì như nhau (Evans 2003).
Khi nào nên đi khám vì vết sẹo
Từ các nghiên cứu nêu trên, phòng khám khuyên mẹ đi khám khi:
- Đau ở sẹo tăng dần thay vì giảm, hoặc đã nhiều tháng mà vẫn đau tới mức ngại cúi, ngại bế con;
- Sờ thấy cục ở sẹo, cục to lên hay đau hơn mỗi lần có kinh;
- Đau nhói hoặc rát như điện giật ở một đầu sẹo, có khi lan xuống bẹn;
- Ra huyết rỉ, lấm tấm vài ngày sau khi đã sạch kinh;
- Lưng hay bụng dưới đau kéo dài, nghỉ ngơi không đỡ, nhất là khi sẹo cũng còn đau.
Cục ở sẹo đau theo kỳ kinh thì nên khám phụ khoa, siêu âm trước, đừng coi là ứ huyết thông thường rồi tự chữa. Vết mổ sưng đỏ, chảy dịch, sốt, hay mẹ ho, khó thở, bắp chân sưng đau thì đi khám ngay; các dấu hiệu nguy hiểm khác có ở bài 02.
Khi đi khám, mẹ mang theo giấy ra viện của lần mổ ấy nếu còn giữ.
Nguồn tham khảo
- Ciechanowicz et al. 2025. J Clin Anesth. 2025;104:111832. PMID 40279839.
- Wang et al. 2025. Anaesthesia. 2025;80(7):834–845. PMID 40070006.
- Jin et al. 2016. BMC Anesthesiol. 2016;16(1):99. PMID 27756207.
- Eisenach et al. 2008. Pain. 2008;140(1):87–94. PMID 18818022.
- Espinós Ramírez et al. 2026. Eur J Pain. 2026;30(1):e70183. PMID 41317004.
- Loos et al. 2008. Obstet Gynecol. 2008;111(4):839–846. PMID 18378742.
- Gruber et al. 2024. Arch Gynecol Obstet. 2025;312(1):1–8 (trực tuyến 11/2024). PMID 39607442.
- Bij de Vaate et al. 2014. Ultrasound Obstet Gynecol. 2014;43(4):372–382. PMID 23996650.
- Tulandi, Cohen. 2016. J Minim Invasive Gynecol. 2016;23(6):893–902. PMID 27393285.
- Huikeshoven et al. 1998. Ned Tijdschr Geneeskd. 1998;142(26):1481–1483. PMID 9752065.
- Anim-Somuah et al. 2018. Cochrane Database Syst Rev. 2018;(5):CD000331. PMID 29781504.
- Howell et al. 2002. BMJ. 2002;325(7360):357. PMID 12183305.
- Chmielewska et al. 2024. BMC Complement Med Ther. 2024;24(1):14. PMID 38167051.
- Cuthbert, Rosner. 2012. J Chiropr Med. 2012;11(1):49–57 (toàn văn PMC3315873). PMID 22942842.
- O’Brien et al. 2013. Cochrane Database Syst Rev. 2013;(9):CD003826. PMID 24030657.
- Lin et al. 2020. Adv Skin Wound Care. 2020;33(6):1–6. PMID 32427792.
- Ito et al. 2021. J Obstet Gynaecol. 2021;41(3):380–384. PMID 33632049.
- Tulandi et al. 2011. Am J Obstet Gynecol. 2011;204(2):132.e1–4. PMID 20974460.
- Sugita et al. 2025. Int J Gynaecol Obstet. 2026;172(2):1015–1022 (trực tuyến 08/2025). PMID 40810613.
- Shin et al. 2012. Dermatol Surg. 2012;38(3):414–423. PMID 22093081.
- Grampayre et al. 2025. BMJ Open. 2025;15(10):e105743. PMID 41057173.
- Evans et al. 2003. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed. 2003;88(5):F380–F382. PMID 12937041.
- Martin et al. 2018. ABM Clinical Protocol #28. Breastfeed Med. 2018;13(3):164–171. PMID 29595994.
- NICE. Caesarean birth (NG192). 2021, cập nhật 06/2025. Khuyến nghị 1.5.3, 1.5.4, 1.6.14, 1.6.18, 1.6.20, 1.6.21, 1.6.23, 1.6.24, 1.6.27, 1.7.10. https://www.nice.org.uk/guidance/ng192
- FDA. Drug Safety Communication về codeine và tramadol ở trẻ em và phụ nữ cho con bú, 20/04/2017.
- EMA/PRAC. Khuyến nghị về codeine, 06/2013.
- NHS Best Start in Life. Breastfeeding positions. https://www.nhs.uk/best-start-in-life/baby/feeding-your-baby/breastfeeding/how-to-breastfeed/breastfeeding-positions/
- Bộ Y tế. Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Châm cứu, ban hành kèm Quyết định 792/QĐ-BYT ngày 12/3/2013: Hào châm (tr. PDF 16), Cứu (tr. PDF 31), quy trình 432 (tr. PDF 956).
- Hạ Quế Thành. Sổ tay chẩn đoán điều trị phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), sách tr. 305, 401; Trung y phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), sách tr. 208.
- Bộ môn Y học cổ truyền, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Giáo trình Nội khoa (2013) (tr. PDF 159).
- 中医内科学 (giáo trình), mục tý chứng (tr. PDF 544).
- Robinson NG. Interactive Medical Acupuncture Anatomy (tr. PDF 582).
- Sun P. The Management of Post-Operative Pain with Acupuncture (tr. PDF 314–315).
- Garten H. Applied Kinesiology. Funktionelle Myodiagnostik in Osteopathie und Chirotherapie. Elsevier; 2016 (tr. PDF 17, 30).




