Trong họ hàng thường có sẵn một thực đơn ở cữ, dùng từ lần sinh trước sang lần sinh sau. Gà ác tần, chân giò hầm, thịt rang gừng rắc nhiều tiêu, cơm nấu kỹ, nước uống lúc nào cũng nóng. Rau thì luộc thật nhừ hoặc bớt hẳn, trái cây để dành tới khi hết tháng. Người nấu ít khi hỏi mẹ đang thấy trong người ra sao, vì thực đơn này đã nuôi mấy lượt người mới sinh trong họ.
Có mẹ ăn đủ tháng thấy da dẻ hồng hào, lại sức. Có mẹ mới sang tuần thứ hai đã táo bón, nhiệt miệng, đêm ngủ mồ hôi ướt lưng áo, sản dịch mãi chưa sạch. Cả nhà lại nghĩ là chưa bồi đủ, thế là nồi canh hôm sau càng đậm hơn.
Sách không áp chữ ấm cho mọi mẹ
Câu "sau sinh nên ăn ấm" thì nhà nào cũng nghe. Thầy Hạ Quế Thành, trong sách Trung y phụ khoa, ghi rằng người xưa có thuyết "sau sinh nên ôn bổ". Ngay đoạn ấy thầy viết tiếp. Người khí hư, Tỳ yếu thì ôn bổ. Người huyết hư mà phần âm đã tổn thì thanh dưỡng, tức là nuôi bằng thứ mát và nhuận. Còn nếu sau sinh bồi dưỡng không thoả đáng mà thấp nhiệt ủ lại bên trong "thì lại không thể không thanh nhiệt". Thầy chốt bằng một câu ngắn: "chớ quên là sau sinh, chớ câu nệ vì là sau sinh".
Cách chia ba nhóm dưới đây là chúng tôi sắp lại từ nhiều đoạn sách, và phần nói mẹ hợp món nào là cách phòng khám đọc lại sách. Mẹ huyết hư, thường kèm cả khí hư, được nuôi bằng món ngọt ấm, mềm; còn khi mất huyết đến hao cả phần âm, sinh nóng trong, thì món cần mát, nhuận, và đó là nhóm nóng trong ở mục dưới. Đến phần chữa bằng thuốc, Hạ Quế Thành còn mấy lần nhắc đừng câu nệ thuyết sau sinh nên ấm, khi mẹ bị nhiễm khuẩn, sốt do huyết hư hoả vượng hay sản dịch kéo dài. Đó là chuyện kê thuốc, song đủ thấy sách không coi chữ ấm là luật cứng.
Hải Thượng Lãn Ông cũng viết hai chiều trong sách Phụ đạo xán nhiên. Sách xưa lấy bổ hư hàn làm phép chính cho bệnh sau sinh. Song mẹ nào khoẻ, sinh dễ, ăn được, sản dịch ra đều thì đừng cho rằng ai sinh xong cũng hư mà bổ bừa, bổ nhầm lại sinh thêm bệnh. Ông dặn sau khi sinh, dù không bệnh, mẹ cũng nên nghỉ ngơi, được chăm cho Tỳ Vị, được ăn ngon. Tỳ Vị lúc này còn yếu, khó tiêu, nên chớ ăn quá nhiều; mấy ngày đầu ăn cháo loãng rồi tăng dần, không ăn no quá. Chuyện sau sinh ăn uống không chừng mực làm tổn Tỳ Vị còn được sách Phó Thanh Chủ, ở phần Sinh hoá biên, xếp thành một mục bệnh riêng.
Ăn theo thể là kinh nghiệm lâm sàng ghi trong sách Đông y, và chúng tôi chưa tìm thấy thử nghiệm nào cho mẹ sau sinh ăn theo thể rồi đo kết quả. Có một nghiên cứu ở Đài Loan theo dõi các mẹ từ lúc mang thai tới sáu tháng sau sinh. Thể chất thay đổi qua từng giai đoạn; tới sáu tháng, thể dương hư gần về như trước khi mang thai, còn thể âm hư và thể đàm thấp kèm huyết ứ thì chưa (Kuo 2015). Thể của mẹ vì vậy nên được xem lại sau mỗi chặng, đừng xếp một lần rồi ăn theo mãi.
Mẹ da nhợt, hay choáng thì bồi nhẹ và mềm
Mẹ thể huyết hư hay có da mặt nhợt hoặc kém tươi. Đứng lên ngồi xuống thấy choáng, hoa mắt, hay hồi hộp, ngủ ít. Bụng dưới đau âm ỉ, xoa hay ấn vào lại thấy dễ chịu, đi ngoài có khi táo. Khi khí cũng hư theo, mẹ mệt, hụt hơi, ngại nói, cử động một chút là ra mồ hôi.
Hạ Quế Thành viết gọn rằng người huyết hư lấy ngọt ấm dưỡng huyết làm chính. Với mẹ khí huyết hư bị đau mình sau sinh, thầy dặn ăn táo đỏ, long nhãn, gừng tươi, thịt dê, cùng vài vị thuốc, để giúp sức cho thuốc. Mẹ thể bệnh này vì thế hợp món tính ngọt, ấm, nấu mềm, dễ tiêu.
Chỗ sách dặn kỹ hơn cả là đừng dồn đồ bổ khi bụng chưa nhận. Hải Thượng viết người Tỳ Vị yếu, bên trong không có hoả thì ăn cháo trắng trước, dần dần mới thêm chút thịt dê, móng giò; ăn thịt sớm quá thì đầy trệ, đau bụng, đi ngoài. Sách Hạ Quế Thành cũng nhắc đau bụng thể hư thì càng phải lo cho Tỳ Vị. Mẹ ăn chưa thấy ngon, ăn vào lâu tiêu thì đi từ cháo, canh hầm mềm lên dần, đừng ép ăn thật no cho mau lại sức.
Mẹ thể hàn thì ăn ấm, nấu chín
Bụng dưới đau kiểu lạnh, chườm ấm thì đỡ. Mẹ sợ lạnh, tay chân lạnh, mặt xanh tái. Sản dịch ra ít, màu tím, có cục.
Lời dặn ăn ấm hợp nhất với thể này. Sách Kim Quỹ có món thịt dê nấu cùng Đương quy và gừng tươi cho mẹ đau bụng âm ỉ do lạnh sau sinh, Hải Thượng và Hạ Quế Thành đều chép lại. Gừng tươi thái vào nồi canh, nồi thịt làm gia vị cũng hợp với mẹ hư hàn theo cùng ý ấy.
Lời kiêng đồ sống lạnh có từ đời Đường. Thầy thuốc Mạnh Sân đã dặn sau sinh kiêng đồ sống lạnh, được Bản thảo cương mục dẫn lại. Hải Thượng nhắc mùa hè cũng đừng ham mát mà ăn đồ lạnh, và sách Bảo sản ông chép lại ghi rằng sau sinh chưa đầy tháng mà ăn đồ nguội lạnh có thể sinh huyết trệ, đi lỵ, đi ngoài. Sách chỉ kiêng đồ sống lạnh, nên với mẹ thể hàn, chúng tôi dặn uống ấm, ăn chín, rau cũng nấu chín và ăn khi còn nóng.
Ấm cũng có mức. Khi bàn về thuốc, sách Phó Thanh Chủ (phần Sinh hoá biên) dặn thuốc quá lạnh làm huyết ứ lại, còn thuốc quá nóng như Quế, Phụ có thể gây băng huyết. Bữa ăn cũng nên theo tinh thần ấy. Mẹ thể hàn cần món ấm, nhưng đồ cay nóng thì không cần bữa nào cũng có.

Mẹ nóng trong cần ăn thanh đạm hơn
Nóng trong là cách nói quen trong nhà. Sách tách ra mấy kiểu, mỗi kiểu có dấu hiệu riêng:
- Âm hư: ngủ thì ra mồ hôi, tỉnh dậy thì ngừng; mặt đỏ bừng, ù tai; miệng khô, họng ráo; lòng bàn tay bàn chân nóng; chiều sốt nhẹ, bứt rứt khó ngủ, táo bón;
- Huyết nhiệt: sản dịch quá ngày mà chưa dứt, ra nhiều, đỏ, đặc, có khi hôi; miệng khô, mặt đỏ;
- Thấp nhiệt: miệng khô hoặc đắng, nhớt; rêu lưỡi vàng nhớt; đi tiểu buốt, nóng; mồ hôi vàng, dính.
Hạ Quế Thành ghi một nguyên nhân khiến sản dịch kéo dài là sau sinh ăn quá nhiều đồ cay nóng, làm hao phần âm, sinh hư nhiệt, đẩy huyết ra ngoài. Sản dịch kéo dài còn nhiều nguyên nhân khác, nên mẹ vẫn cần đi khám, đổi món thôi thì chưa đủ.
Chuyện bồi quá tay thầy nhắc ở nhiều chỗ. Ăn quá nhiều đồ béo, ngọt, cay nóng thì thấp nhiệt sinh ra, có mẹ đi tiểu buốt. Mẹ có sản dịch kéo dài được dặn tránh đồ béo ngọt đậm vị và "thức ăn đại bổ". Ra mồ hôi kiểu thấp nhiệt cũng được thầy ghi là một phần do điều bổ không thích đáng.
Sách còn kể một ca đúng chuyện này. Một mẹ ra mồ hôi trộm đã hơn hai tháng sau sinh, vốn có khí hư màu vàng, dính từ trước. Tự thấy mình yếu, mẹ uống đi uống lại canh Hoàng kỳ nấu táo đỏ. Thầy nhận định món bồi ấy "không ngừng trợ giúp thấp trọc", làm thấp nhiệt nặng thêm; bệnh còn có gốc từ cái thấp sẵn có và cách ăn uống chưa hợp. Mẹ được chữa bằng thuốc dưỡng âm, thanh nhiệt, kiện Tỳ, lợi thấp thì khỏi.
Với mẹ táo bón vì ăn nhiều cay nóng, chiên rán, Hạ Quế Thành khuyên đổi thói quen ăn: thêm rau xanh như cần tây, rau chân vịt, thêm chuối, táo tây, uống đủ nước, kiêng cay nóng; nhịn ăn vì sợ đi ngoài thì không ích gì. Mẹ ra mồ hôi nhiều được dặn kiêng tiêu, gừng, hành, tỏi, và trừ vài trường hợp nặng do thầy thuốc xác định, không dùng đồ ăn uống nóng bỏng. Nói gọn, mẹ nóng trong cần món thanh đạm, mát và nhuận, vẫn nấu chín.
Nồi nước ngải cứu hay được nấu cho người mới sinh cũng phải xét như vậy. Thầy Nguyễn Hữu Đức ghi không dùng ngải cứu khi người đang nóng, đổ mồ hôi đầu, hoặc táo bón do thiếu tân dịch.
Khi mẹ vừa lạnh ngoài vừa nóng trong
Có mẹ không gọn trong một thể bệnh. Hải Thượng viết sau sinh dương hư thì bên ngoài lạnh, âm hư thì bên trong nóng; mất huyết nhiều thì huyết hư, hoả động, sinh bứt rứt, phát nóng. Sách Hạ Quế Thành có tả mẹ sốt do huyết hư mà vẫn sợ lạnh, thích ấm, mặt lại đỏ như đánh phấn.
Một kiểu hay gặp là mẹ tay chân lạnh, sợ gió, mà miệng khô, nhiệt miệng, táo bón. Ăn thật nóng để chống lạnh thì phần nóng bên trong có thể bùng thêm. Ăn mát để hạ nóng thì bụng lạnh có thể khó chịu hơn. Món tính bình hoặc ấm nhẹ, dễ tiêu thường đỡ lệch hơn, nhưng thể lẫn thì càng nên để thầy thuốc xem trước.
Ai nên bớt gừng, tiêu và đồ cay nóng
Gừng có mặt trong gần như mọi món ở cữ. Hải Thượng, trong Dược phẩm vựng yếu, khen gừng tươi dùng sau sinh giúp phá huyết ứ, rồi cũng ở mục ấy dặn người âm hư hoả thịnh, đang ra mồ hôi, đau bụng do nhiệt thì không dùng. Giáo trình Trung dược đang dùng ở Trung Quốc ghi cùng ý: gừng tươi "trợ hoả thương âm", người nhiệt thịnh và âm hư nội nhiệt nên kiêng.
Lý Thời Trân trong Bản thảo cương mục thì viết ăn gừng lâu ngày sẽ tích nhiệt, người bị trĩ ăn nhiều kèm rượu thì trĩ bùng nhanh, người mụn nhọt ăn nhiều thì nặng thêm.
Từ các đoạn trên, phòng khám gom thành nhóm những mẹ nên bớt gừng, tiêu, ớt và đồ cay nóng. Hai mục trĩ và mụn nhọt dựa vào lời Lý Thời Trân, vốn nói chung cho mọi người chứ không viết riêng cho sau sinh.
- Mẹ đang ra huyết nhiều hoặc sản dịch kéo dài, vì sách Phó Thanh Chủ, ở mục băng huyết sau sinh, dặn cữ đồ nóng như tiêu, gừng cùng với đồ sống lạnh;
- Mẹ nóng trong, miệng khô, mặt bừng, lòng bàn tay bàn chân nóng;
- Mẹ táo bón;
- Mẹ ra mồ hôi nhiều;
- Mẹ bị trĩ;
- Mẹ đang nổi mụn, mụn nhọt.
Hải Thượng gói ý này vào bài ca Vệ sinh yếu quyết, sau khi kể gừng, tỏi, kiệu, hành: "Vừa chừng gia vị thì nên / Hễ người táo nhiệt, chớ quên kiêng dùng."
Phòng khám tách gừng thái vào nồi thịt làm gia vị khỏi nước gừng đặc hay rượu gừng uống như thuốc. Uống gừng như uống thuốc thì cần xem thể, và mẹ nóng trong, đang ra huyết nhiều thì nên bớt. Trong thuốc, gừng tươi, gừng khô và gừng sao đen cũng mỗi thứ dùng một khác.
Mẹ cho con bú hay hỏi gừng có sang bé không. LactMed, cơ sở dữ liệu về thuốc và sữa mẹ của Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ, ghi gừng làm gia vị được xem là an toàn, kể cả khi cho bú; dữ liệu về độ an toàn cho mẹ và bé còn rất ít, tác dụng lợi sữa có bằng chứng yếu. LactMed cũng lưu ý gừng có thể làm tăng nguy cơ chảy máu ở người đang dùng thuốc chống đông như warfarin, nên mẹ đang dùng thuốc chống đông hãy hỏi bác sĩ trước khi uống gừng như thuốc. Nghệ dùng làm thực phẩm được LactMed xem là an toàn, còn chuyện nghệ giúp lợi sữa thì chưa có cơ sở. Với tiêu ăn ở lượng thông thường, chất cay piperine vào sữa rất thấp.
Rượu thì sách xưa dùng như một vị thuốc hành huyết, mà vẫn dặn người đang hư không uống nhiều và không uống ngay sau khi sinh. Khi mẹ cho con bú, rượu vào sữa theo nồng độ rượu trong máu mẹ (LactMed); loạt bài dinh dưỡng khi cho con bú của phòng khám đã bàn kỹ chuyện này.
Rau và trái cây trong tháng ở cữ
Kiêng đồ sống lạnh dễ bị hiểu thành kiêng luôn rau quả. Một khảo sát hỏi lại 2.100 mẹ ở Hồ Bắc (Trung Quốc) thấy trong tháng ở cữ, gần 8/10 mẹ không ăn trái cây và gần 1/5 không ăn rau (Liu 2006). Trên cùng bộ số liệu, mẹ ăn rau lá và đổi món thường xuyên ít bị bệnh vùng hậu môn hơn, dù đây mới là tương quan (Mao 2016). Ở sáu thành phố Trung Quốc, một nghiên cứu khác lại thấy chất lượng bữa ăn tháng đầu tốt nhất so với các giai đoạn sau, có điều phần lớn mẹ ăn thiếu rau, quả, sữa mà dư ngũ cốc, thịt (Jiang 2023), tức là ăn lệch nhiều hơn ăn thiếu.
Rau quả nấu chín, ăn ấm khác với đồ sống lạnh mà sách dặn kiêng. Vì vậy mẹ thể hàn, Tỳ Vị yếu, hay đi ngoài lỏng thì rau nên nấu chín, ăn lúc còn nóng, trái cây đừng lấy lạnh từ tủ ra ăn ngay. Mẹ táo bón, nóng trong thì nên ăn thêm rau xanh, chuối, táo tây như Hạ Quế Thành khuyên. Ở một thử nghiệm cũng tại Hồ Bắc, mẹ được tư vấn ăn uống và sinh hoạt sau sinh ăn thêm rau quả, và ít bị táo bón hơn, rõ ở thành thị (Liu 2009); chương trình gồm nhiều việc nên chưa tách được phần nhờ ăn.
Khi ăn mãi vẫn không thấy hợp
Sách Bảo sản mà Hải Thượng chép lại có ghi sau sinh ăn đồ nóng có thể sinh mỏi mệt, mồ hôi trộm, "nóng âm ỉ trong xương". Tuy vậy, mệt và đổ mồ hôi còn do nhiều nguyên nhân khác. Riêng chuyện thiếu ngủ, thức đêm cho con bú cũng đủ làm mẹ mệt, khó tập trung, dễ cáu, nên chưa thể quy hết cho bữa ăn.
Mẹ mệt kéo dài thì nên đi khám, làm xét nghiệm trước rồi mới tính chuyện bồi. Thuốc sắc khi đang cho bú và các món gọi sữa có ở những bài khác của chuỗi.
Nếu mẹ ra huyết nhiều, sốt, hay sản dịch có mùi hôi thì đi khám ngay, đừng chờ đổi món. Những dấu hiệu cần đi khám ngay đã được nói riêng ở bài 02 của chuỗi.
Người đứng bếp có thể giúp một việc nhỏ. Trong vài ngày, ghi lại mỗi bữa mẹ ăn gì và sau đó mẹ thấy trong người thay đổi ra sao, rồi mang tờ ghi ấy theo khi đưa mẹ đi khám. Bác sĩ sẽ dựa vào đó cùng mẹ chọn món nên thêm, món nên tạm bớt.
Nguồn tham khảo
- Liu N et al. BMC Public Health. 2006;6:274. PMID 17087836.
- Mao L et al. Asia Pac J Clin Nutr. 2016;25(1):158–164. PMID 26965775.
- Jiang Y et al. Nutrients. 2023;15(21):4499. PMID 37960152.
- Liu N et al. BMC Public Health. 2009;9:45. PMID 19183504.
- Kuo SH et al. Women Birth. 2015;28(2):106–111. PMID 25636899.
- LactMed (Drugs and Lactation Database). Bethesda (MD): National Institute of Child Health and Human Development; 2006–. Các mục: Ginger (PMID 30000845), Turmeric (PMID 30000906), Black Pepper (PMID 35349239), Alcohol (PMID 30000529).
- Hạ Quế Thành. Trung y phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), sách tr. 110, 441–442, 448, 450–452, 454, 456, 458–464, 469, 472.
- Hải Thượng Lãn Ông. Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, tập 1 (tr. PDF 874, 875, 879, 882, 946, 1097); tập 2 (tr. PDF 444).
- Phó Thanh Chủ nữ khoa (bản dịch tiếng Việt), phần Sinh hoá biên (tr. PDF 344, 356, 375).
- Lý Thời Trân. 本草纲目 (Bản thảo cương mục) (tr. PDF 2886, 3398).
- Chung Cám Sinh (chủ biên). 中药学 (giáo trình 13.5) (tr. PDF 154).
- Nguyễn Hữu Đức. Nam dược, phần 2 (tr. 113).




