Chạy bộ 24 – Phim bình thường mà cứ chạy xa lại đau: khám người chạy thế nào

·

Cập nhật

Phim bình thường mà cứ chạy xa lại đau: khám người chạy thế nào

Đôi giày chạy ở góc nhà đã mòn lệch một bên gót. Anh chị đã chụp phim, đã nghỉ hai tuần, đã tập đủ các bài phục hồi. Mấy buổi chạy ngắn đều êm. Rồi tới tuần kéo quãng đường lên, cơn đau quay về đúng chỗ cũ: mặt trong gối nhói ở những cây số cuối, đùi sau căng cứng ở đoạn tăng tốc, hay cổ chân bỗng khuỵu khi đổi hướng trên một khúc trail lởm chởm đá. Đi khám lại, phim vẫn bình thường, thử cơ trên giường thì cơ nào cũng khoẻ.

Có người chỉ lộ vấn đề khi đang vận động, và tấm phim không chụp được điều đó. Ở phòng khám Đông y Tâm Đức, người chạy bộ, chạy trail được khám bằng Applied Kinesiology (AK, kinesiology ứng dụng) kết hợp Y học cổ truyền, lúc đứng yên và cả lúc vừa chạy xong.

Phim chụp lúc nằm yên

X-quang hay MRI chụp cấu trúc: xương, gân, dây chằng. Chạy lại là việc của hệ thần kinh – cơ, mỗi bước nhiều nhóm cơ phải bật, tắt đúng nhịp. Một cơ làm việc dưới ngưỡng có thể chỉ lộ ra khi đã mỏi, khi chịu tải, khi đổi hướng đột ngột. Nằm trên giường khám, nó vẫn qua được phép thử.

Ở người chạy phong trào, yếu tố dự báo chấn thương ổn định nhất là chấn thương cũ trong 12 tháng trước (Saragiotto và cộng sự, 2014). Còn đặc điểm dáng chạy như lực va chạm hay nhịp bước thì hầu như không dự báo được ai sẽ bị (Peterson, 2022; Malisoux, 2022). Từ đó phòng khám đi theo một hướng: muốn hiểu vì sao một người đau lại, phải khám chính người ấy lúc đang vận động.

Trước khi thử cơ: dấu hiệu phải chụp hoặc chuyển

Bước đầu luôn là tìm dấu hiệu không thuộc phần việc của AK hay thuốc sắc. Với gãy xương do quá tải (gãy mỏi), X-quang những tuần đầu hay vẫn bình thường, MRI nhạy hơn nhiều (Magee và Manske; Joyce và Lewindon, 2016). Phim bình thường chưa đủ để chạy tiếp khi có:

  • Đau một điểm trên xương, ấn đau, tăng dần, đau cả lúc nghỉ hay ban đêm;
  • Đau háng hoặc bẹn khi chịu lực, khi nhảy một chân;
  • Trẹo cổ chân trên trail, ấn đau ở mắt cá, nền xương bàn ngón 5 hoặc xương ghe, và không tự đi nổi bốn bước;
  • Tiếng “bốp” sau gót, không nhón gót được;
  • Nước tiểu sẫm như nước coca, cơ sưng đau dữ dội sau chạy dài;
  • Đau ngực hoặc ngất giữa lúc chạy;
  • Ở người chạy nữ, mất kinh từ ba chu kỳ trở lên, hay gãy mỏi lặp lại.

Khi đó bác sĩ chỉ định chụp, xét nghiệm hoặc chuyển chuyên khoa, chưa kê thuốc. Ngày chạy dài thì khát mới uống. Người lú lẫn, buồn nôn sau chạy mà đã uống rất nhiều nước thì không cho uống thêm, gọi cấp cứu (Hew-Butler và cộng sự, 2015).

Khám theo cách người bệnh chạy

Walther, tác giả bộ giáo trình nền của AK, đặt ra nguyên tắc khám người bệnh theo cách họ sống và chơi thể thao (Synopsis, tr. 219), và phòng khám làm theo nguyên tắc ấy. Leaf, trong kỷ yếu Hội Applied Kinesiology Quốc tế (ICAK) năm 1984, thử cơ một vận động viên marathon trước buổi tập và sau dặm thứ 5, 8, 12, 16, và ghi nhận rằng chỉ sau 3–4 phút trên máy chạy, cơ tứ đầu đùi có thể yếu rõ dù thử ở tư thế nằm vẫn bình thường. Phòng khám không thử cơ trên máy chạy; người bệnh đi, chạy, nhảy ngay tại phòng khám rồi được thử lại.

Trình tự buổi khám ghép từ Walther và Cuthbert. Bác sĩ hỏi đau khi đứng, khi đi hay chỉ khi chạy, nhìn đế giày mòn chỗ nào và chai ở đâu dưới bàn chân. Sau đó thử cơ “trần” lúc người bệnh nằm yên, rồi thử lại khi cơ chịu tải. Gait test (thử cơ theo dáng đi) thử cùng lúc từng cặp cơ vai và hông đối bên: riêng từng nhóm thì khoẻ mà thử cùng lúc thì yếu là dương tính, thường kèm một khớp bàn chân lệch cần chỉnh. Tiếp theo là tìm cơ phản ứng, phản ứng căng dây chằng, thử cơ lặp, khám bàn chân, và cuối cùng cho người bệnh đi, chạy, nhảy rồi khám lại ngay.

Gối khuỵu khi đổi hướng mà phim bình thường

Người chạy trail hay kể: tới chỗ ngoặt gấp hay hòn đá lệch, gối hoặc cổ chân tự nhiên khuỵu, mà khám cơ và X-quang đều bình thường. AK gọi đây là bệnh cảnh của cơ phản ứng. Ở chi dưới, hai cơ hay phản ứng là cơ bụng chân và cơ khoeo (popliteus) nằm sau gối (Walther, Synopsis, tr. 77, 218–219). Sau một lần trẹo ngửa cổ chân, đầu trong cơ bụng chân có thể co ngắn và còn đau dù mô đã lành. Bác sĩ xử trí ngay trong buổi khám bằng strain/counterstrain, giữ tư thế khoảng 30 giây.

Mặt trong gối còn một hướng nữa là phản ứng căng dây chằng: cơ vốn khoẻ yếu đi ngay sau khi người khám kéo căng dây chằng của khớp liên quan. Nguyên nhân hay gặp, theo Walther, là stress tuyến thượng thận toàn thân, gặp cả ở người cầu toàn, quen gồng mình. Người có phản ứng này dễ chấn thương khi chạy, khi xoay người, và tập tới kiệt sức làm nặng thêm. Nhóm cơ AK gắn với thượng thận gồm cơ may, cơ thon, cơ bụng chân, cơ dép, cơ chày sau (Synopsis, tr. 212–213, 523–526), tức là đúng mặt trong gối, bắp chân và vòm bàn chân.

Người tập quá tải, ngủ kém hay chịu áp lực lớn trước giải được kiểm thêm bằng một kỹ thuật AK chuyên sâu: tìm stress ở thùy trán, hệ viền và hồi đai, những vùng não tham gia điều phối cảm xúc trước áp lực. Đây là kinh nghiệm riêng của phòng khám. Điều chỉnh xong, bác sĩ thử lại các cơ quanh gối xem chúng có đổi theo không.

Mười lần thử cơ và một xét nghiệm ferritin

Người chạy cần cơ bền qua hàng giờ, không chỉ mạnh ở một lần thử. Goodheart, người khai sinh AK, đề ra thử cơ lặp: cơ sợi chậm thử khoảng 10 lần trong 10 giây, cái yếu thường lộ ra giữa chuỗi. Chỉ một cơ yếu dần theo kiểu thử này thì Walther ghi là thường cần nguồn sắt; ông dẫn những ca ferritin thấp trong khi hemoglobin vẫn bình thường (Synopsis, tr. 200–201).

Ở phòng khám, thử cơ lặp gợi ý để bác sĩ cho làm xét nghiệm ferritin. Thiếu thật thì bổ sung sắt theo xét nghiệm, vì thử cơ không dùng để định liều.

Đế giày mòn lệch và bắp chân ngắn

Trong Synopsis, bàn chân được xếp là nguyên nhân cấu trúc thứ hai gây rối loạn tổ chức thần kinh, sau hệ sọ – cùng (tr. 461–465). Bàn chân sấp xuống khi tiếp đất là cần thiết. Rắc rối nằm ở chỗ nó không cứng lại đúng lúc để đẩy người đi tiếp, gọi là sấp kéo dài. Bác sĩ thử cơ khi người bệnh đứng, rồi cho xoay ngoài chân; cơ khoẻ lại thì nghĩ tới sấp kéo dài.

Nguyên nhân hay gặp là tam đầu cẳng chân, nhóm bắp chân nối vào gân Achilles, bị ngắn. Mục tiêu là bàn chân gập lên được ít nhất 10 độ. Xương sên ở những bàn chân này hầu như luôn lệch và được chỉnh trong buổi khám. Ở nhà, người bệnh tự giãn bắp chân kiểu co, thả rồi giãn, ngày 5 lần; sau 30 ngày bàn chân gập thêm khoảng 6 độ, theo số liệu Walther ghi lại. Giày nên chắc, gót thấp, buộc dây gọn. Đế chỉnh hình quá cứng lại gây hại.

Nắm viên bổ trong ba lô chạy

Người chạy hay dùng cùng lúc magnesium, kẽm, collagen, viên điện giải, sắt. Phòng khám kiểm từng thứ theo cách chuẩn Walther mô tả năm 1981 (Basic Procedures, tr. 45–50):

  • Người bệnh uống nước lọc trước, vì mất nước làm lệch kết quả;
  • Bác sĩ chọn một cơ đặc hiệu và thử trước;
  • Người bệnh nếm, ngậm một lượng nhỏ chất cần thử, không cần nuốt, có khi chỉ ngửi;
  • Bác sĩ thử lại đúng cơ đó: cơ yếu mạnh lên là chất phù hợp, cơ khoẻ yếu đi là chất không hợp;
  • Không cầm lọ trong tay để thử, vì Walther xếp cách này vào loại thủ thuật đáng ngờ.

Ở người chạy, các tác giả AK chú ý trước hết tới natri và kali: muối làm cơ yếu thì kali thường làm cơ khoẻ, và ngược lại. Maffetone (kỷ yếu ICAK 1983) kể một người chạy ngậm chút muối ở dặm thứ 5 thì dáng chạy trở lại như ở dặm đầu.

Cách kiểm này giúp tìm chất cơ thể đang thiếu dù xét nghiệm vẫn trong giới hạn. Nó đi cùng xét nghiệm, không thay: thiếu sắt cần ferritin, hạ natri máu cần đo natri, tiêu cơ vân cần CK, nghi gãy mỏi cần MRI; chính Walther cũng viết vậy (Synopsis, tr. 171). Người chạy giải có kiểm tra doping càng nên đưa nắm viên bổ cho bác sĩ xem. Trong 634 sản phẩm bổ sung được khảo sát, khoảng 15 % có chất cấm không ghi trên nhãn (Geyer và cộng sự, 2008). Stark, một tác giả AK, khuyên chỉ dùng sản phẩm có chứng nhận NSF; chứng nhận giảm chứ không loại hết rủi ro (Maughan và cộng sự, 2018).

Chỉnh xong thì cho chạy lại

Trong AK, chẩn đoán và điều chỉnh đi liền nhau. Hai công cụ lõi là therapy localization (người bệnh tự đặt tay lên vùng nghi ngờ rồi thử lại cơ) và challenge (tác động nhẹ lên một khớp rồi xem cơ đổi ra sao).

Cơ phản ứng ở bắp chân, sau gối được xử trí bằng strain/counterstrain như đã kể. Vùng chậu và cột sống được chỉnh trực tiếp, hoặc bằng SOT với khối chêm. Lớp mạc bọc cơ quanh chỗ đau được làm bằng fascial release. P-DTR làm việc với thụ thể cảm giác và phản xạ gân, còn các phản xạ NeuroLymphatic, NeuroVascular dùng cho những cơ đã yếu khi thử.

Chỉnh xong, bác sĩ cho người bệnh đi, chạy, nhảy, rồi thử lại ngay những cơ đã yếu, để biết điều chỉnh có giữ được khi chịu tải hay không.

Túi thuốc 50 ml sau khám

Sách Tố vấn có câu “久行伤筋”, đi lâu hại cân, được hiểu như lời nhắc nhọc mà không tới mức kiệt. Chuột rút, người miền Nam gọi là vọp bẻ; sách cổ ghi huyết khí đều ít thì hay chuột rút, đau dưới gót (Trung y cơ sở lý luận, tr. 459).

Sau khám AK và tứ chẩn, bác sĩ có thể kê thuốc sắc đóng túi 50 ml, nấu mẻ riêng cho từng người, theo thể:

  • Mệt kéo dài, hồi phục chậm sau giải hay đợt tập nặng: khí huyết hư, bắt buộc có công thức máu và ferritin trước;
  • Mồ hôi nhiều, khát, hụt hơi sau mùa chạy nóng: khí âm lưỡng hư; túi không thay bù nước, điện giải;
  • Chuột rút bắp chân tái diễn: Can huyết hư, cân thất dưỡng, sau khi đã loại trừ hạ kali, hạ natri, chuột rút do thuốc;
  • Mỏi lưng gối ở người trung niên, hay hồi phục sau gãy mỏi nguy cơ thấp đã được chẩn đoán: Can Thận hư;
  • Sưng bầm sau ngã, bong gân trên trail, khi đã loại trừ gãy xương: huyết ứ, chỉ dùng đợt ngắn.

Một số vị như Ngưu tất, Đan sâm, Tam thất, Hồng hoa không dùng khi mang thai hay đang mong con. Khi đang mong con, anh chị được kê bản giữ Đỗ trọng, Tang ký sinh, hai vị sách thuốc ghi có công năng an thai. Người mang thai vẫn được khám AK, chỉ không thử cơ vùng chậu khi thai đã lớn, và phòng khám không châm kim trong thời gian mang thai.

Về bằng chứng, chỉ Đương quy bổ huyết thang từng được thử trên người chạy: một thử nghiệm nhỏ ở 36 nam chạy giải trí, nhóm dùng thuốc về nhanh hơn ở một lần chạy 13 km, chưa được lặp lại (Chang và cộng sự, 2018). Các hướng còn lại dựa trên kinh điển và loạt ca. Phòng khám không hứa túi thuốc giúp chạy nhanh hơn; túi đi cùng việc giảm tải và tập lại có hướng dẫn. Thang có Hoàng kỳ hay Ngũ vị tử thì không uống trong 2 giờ trước buổi chạy nóng hoặc trước giải.

Người chạy giải có kiểm tra doping cần báo trước. Higenamine bị WADA 2026 cấm mọi lúc. Chất này đã đo được trong Liên tâm, Hoàng bá, Ngô thù du, Tế tân và phát hiện trong Hậu phác, Thăng ma, Hoàng liên, Tân di, Toan táo nhân (Lin và Hsu, 2024; Sakamoto, 2025). Chưa có dữ liệu nước tiểu người sau uống thang sắc, nên chỉ nói được là các vị ấy có thể gây dương tính. Phòng khám có bản riêng cho người thi đấu, bỏ các vị này; người chạy vẫn nên đọc quy chế giải mình dự.

Trở lại đoạn đường cũ

Quay lại đôi giày mòn lệch ở góc nhà. Khi đã sàng hết dấu hiệu cần chụp, phim bình thường là tin tốt, chỉ chưa trả lời vì sao cứ tới quãng ấy thì đau. Thường thì câu trả lời nằm ở một cơ tắt đúng lúc khớp cần nó, và về chuyện đó, cái gót giày mòn lệch kể được nhiều hơn tấm phim.

Nếu anh chị đang ở trong vòng nghỉ, chạy rồi đau lại ấy, hãy mang đôi giày chạy tới buổi khám. ThS.BS Đinh Ngọc Đức sẽ khám anh chị lúc đứng yên, rồi khám lại ngay sau khi anh chị chạy. Đặt lịch khám.

Để lưu

  • Đau một điểm trên xương tăng dần, đau háng khi chịu lực, nước tiểu sẫm sau chạy: dừng chạy và đi khám trước;
  • Ghi lại số km mỗi tuần, chỗ đau và cây số bắt đầu đau trong vài tuần gần nhất;
  • Mang đôi giày chạy đang dùng và đồng hồ hoặc ứng dụng chạy tới buổi khám;
  • Mang theo mọi viên bổ, thuốc đang dùng, kể cả thuốc cảm, thuốc xoa, thuốc Bắc;
  • Mặc đồ chạy được, vì bác sĩ sẽ cho đi, chạy, nhảy rồi khám lại;
  • Thử cơ gợi ý thiếu sắt thì làm xét nghiệm ferritin trước khi uống sắt;
  • Chạy giải có kiểm tra doping thì báo bác sĩ trước khi kê thuốc.

Nguồn tham khảo

  • Walther DS. Applied Kinesiology: Synopsis, ấn bản 2. Tr. 77, 171–172, 200–201, 212–213, 218–222, 461–465, 523–526.
  • Walther DS. Applied Kinesiology Vol. I: Basic Procedures and Muscle Testing. 1981. Tr. 45–50.
  • Cuthbert SC. Applied Kinesiology: Clinical Techniques for Lower Body Dysfunctions. Tr. 27, 110–115.
  • ICAK Collected Papers: Maffetone, Đông 1983, tr. 105–107; Leaf, Hè 1984, tr. 167–168; Stark, 2022–2023, tr. 57–64.
  • Magee DJ, Manske RC. Orthopedic Physical Assessment, ấn bản 7. Tr. 82, 1018, 1073, 1270, 1333, 1353, 1377.
  • Joyce D, Lewindon D (chủ biên). Sports Injury Prevention and Rehabilitation. 2016. Tr. 229.
  • Saragiotto và cộng sự, 2014. Yếu tố nguy cơ chấn thương ở người chạy. PMID 24809248.
  • Peterson 2022. PMID 35254562; Malisoux 2022. PMID 35049407.
  • Hew-Butler T và cộng sự. Statement of the 3rd International Exercise-Associated Hyponatremia Consensus Development Conference. Clin J Sport Med 2015;25:303. PMID 26102445.
  • Geyer H và cộng sự. Nutritional supplements cross-contaminated and faked with doping substances. J Mass Spectrom 2008. PMID 18563865.
  • Maughan RJ và cộng sự. IOC consensus statement: dietary supplements and the high-performance athlete. Br J Sports Med 2018;52:439–455. PMID 29540367.
  • WADA. The 2026 Prohibited List (hiệu lực 01/01/2026). https://www.wada-ama.org/sites/default/files/2025-09/2026list_en_final_clean_september_2025.pdf
  • Lin & Hsu 2024. Higenamine trong dược liệu. J Pharm Biomed Anal 2024;246:116188. PMID 38733761.
  • Sakamoto 2025. Higenamine, coclaurine trong chế phẩm Kampo. J Nat Med 2025. PMID 40751788.
  • Chang WC và cộng sự. Danggui Buxue Tang và sức bền chạy, hepcidin. Nutrients 2018. PMID 30231484.
  • 中医药学高级丛书 · 中医基础理论 (Trung y cơ sở lý luận). Tr. 459, 498.
  • Hoàng đế nội kinh Tố vấn, Nguyễn Tử Siêu dịch. Tr. 195.
  • 中药学, Chung Cám Sinh chủ biên. Tr. 328, 664.

Đặt lịch khám cùng Đông y Tâm Đức

Để lại thông tin hoặc gọi trực tiếp 0345.22.33.19 – phòng khám sẽ liên hệ xác nhận lịch hẹn.

0345.22.33.19