Ngày thứ ba sau mổ, mẹ được cho về nhà. Buồng trong đã dọn sẵn, giường kê sát vách, rèm kéo kín. Người đến thăm ai cũng góp một câu. Nằm yên cho vết mổ liền, đừng ngồi dậy nhiều kẻo bung chỉ. Một tháng đừng tắm, nước ngấm vào vết mổ là làm mủ. Cơm chưa vội, đợi "xì hơi" rồi hẵng ăn. Mẹ sinh mổ còn bị dặn kỹ hơn mẹ sinh thường, vì trên bụng có thêm một đường khâu.
Lo cho vết mổ là có lý. Có điều, vài lời dặn quen tai trong số ấy lại ngược với các hướng dẫn chăm sóc sau mổ lấy thai bây giờ, và sách Đông y xưa cũng không viết những lời ấy cho ca sinh mổ.
Sách Đông y xưa chưa có mục cho ca sinh mổ
Phần lớn lời dặn ở cữ trong nhà mình có từ thời chưa có mổ lấy thai. Sách Đông y xưa chúng tôi đọc lại không có mục riêng cho ở cữ sau mổ; lời kiêng cữ trong sách viết cho cuộc sinh qua đường dưới. Bài ca dặn dò khi sinh trong bộ sách của Hải Thượng Lãn Ông có câu "Nằm yên một chỗ chớ ngồi chớ đi", và cũng bài ca ấy dặn chớ rặn sớm, rõ là đang nói với người sinh thường. Sách Y học, được Hải Thượng chép lại, cũng dặn "không rời giường cữ".
Thứ gần với vết mổ nhất mà sách xưa có nhắc là "kim sang", vết thương do dao kéo. Kim Quỹ ghi người bị dao búa làm bị thương thì mất huyết, và có một câu dặn cả người bị kim sang lẫn sản phụ đừng ăn lê, thứ quả sách cho là làm lạnh bên trong. Bác sĩ phòng khám vì thế nhìn mẹ sinh mổ vừa là người mới sinh, vừa là người mang vết thương do dao kéo. Đó là cách hiểu của chúng tôi, sách không viết như vậy.
Tắm và vết mổ
Băng trên vết mổ thường được gỡ trong khoảng 6 đến 24 giờ sau mổ, theo hướng dẫn về sinh mổ của Viện Y tế và Chăm sóc Xuất sắc Quốc gia Anh (NICE NG192). Sau đó mỗi ngày mẹ lau rửa vết mổ thật nhẹ rồi thấm khô, mặc đồ rộng, quần lót cotton. Một thử nghiệm trên 320 mẹ mổ chủ động so gỡ băng lúc 6 giờ với lúc 24 giờ, biến chứng vết mổ gần như nhau (13,8% và 12,5%), và mẹ gỡ sớm hài lòng hơn vì được tắm rửa sớm (Peleg 2016).
NICE còn có khuyến nghị chung cho mọi ca phẫu thuật là sau 48 giờ có thể tắm vòi sen an toàn. Ở nước mình, Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản của Bộ Y tế (ban hành kèm Quyết định 4128/QĐ-BYT năm 2016) dặn mẹ sau sinh chừng hai, ba ngày thì tắm nhanh bằng nước ấm được, và trong sáu tuần đầu có thể tắm hằng ngày bằng nước sạch, ấm. Hướng dẫn này viết chung cho mọi bà mẹ, không có đoạn riêng cho mẹ sinh mổ.
Còn chuyện để nước chạm vào vết mổ thì bằng chứng mỏng. Tổng quan Cochrane chỉ có một thử nghiệm, lại làm trên người tiểu phẫu ngoài da; tắm sau 12 giờ hay chờ từ 48 giờ trở lên thì nhiễm khuẩn như nhau (8,5% và 8,8%), mà một thử nghiệm thì chưa đủ kết luận (Toon 2015). Ngâm bồn, đi bơi sau mổ lấy thai thì chưa ai nghiên cứu; chờ vết mổ lành rồi mới ngâm là ý kiến chuyên gia.
Một khảo sát 2.100 mẹ ở Hồ Bắc (Trung Quốc) thấy tắm, gội trong tháng ở cữ không làm tăng nhiễm trùng như nhiều người vẫn sợ, nhưng mẹ hay tắm lại tự kể bị đau lưng, đau khớp nhiều hơn, mà không rõ họ tắm nước nóng hay nước lạnh (Mao 2016). Sách Đông y lo lạnh hơn lo nước. Hạ Quế Thành, trong sách phụ khoa, chỉ kiêng ngâm bồn trong thời kỳ hậu sản và dặn rửa sạch vùng kín ngày hai lần; sách không có câu nào bảo không được tắm. Hải Thượng cũng chỉ dặn "chớ vội chải đầu, rửa chân", ý là mấy ngày đầu chưa nên làm vội.
Khi bác sĩ sản đã cho phép, mẹ sinh mổ có thể tắm vòi bằng nước ấm, tắm nhanh, lấy khăn sạch thấm khô vết mổ rồi mặc ngay đồ khô. Lần đầu nên có người ở gần, vì mẹ còn đau, cúi người chưa tiện. Chuyện gió, quạt, máy lạnh, nằm than, xông lá đã có ở bài 17.1 của chuỗi.
Nằm yên cả tháng hay đi lại sớm
Mẹ sinh mổ khác mẹ sinh thường rõ nhất ở chỗ này. Một phân tích gộp các nghiên cứu quan sát cho thấy sau mổ lấy thai, nguy cơ có cục máu đông trong tĩnh mạch cao hơn sinh thường khoảng 4 lần, cao hơn nữa nếu mổ cấp cứu; tính ra cứ 1.000 mẹ sinh mổ thì khoảng 3 mẹ gặp chuyện này (Blondon 2016).
Hội Sản Phụ khoa Hoàng gia Anh (RCOG) ghi nguy cơ ấy còn kéo dài vài tuần sau sinh. Mẹ mổ khi đang chuyển dạ thường được cân nhắc tiêm thuốc chống đông ít nhất 10 ngày, còn mẹ nguy cơ thấp thì vận động sớm, đừng để thiếu nước; nằm bất động từ 3 ngày trở lên cũng được RCOG xếp vào các yếu tố nguy cơ. Trang thông tin của Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) khuyên mẹ ra khỏi giường, đi lại càng sớm càng tốt, về nhà thì mỗi ngày đi bộ nhẹ để giảm nguy cơ cục máu đông, miễn đừng quá sức.
Hạ Quế Thành cũng khuyến khích sản phụ sớm xuống giường vận động cho ruột hoạt động lại, trong lời dặn phòng táo bón chung cho mọi sản phụ. Maciocia khuyên nghỉ ít nhất một tháng, nhưng nghỉ theo ông là xen kẽ vận động nhẹ với nằm. Với mẹ sinh mổ, bác sĩ phòng khám theo sách hiện đại và các hướng dẫn phòng huyết khối.
Đi lại sớm không có nghĩa là thôi nghỉ ngơi. Bản cập nhật năm 2025 của Hội ERAS (chương trình phục hồi sớm sau phẫu thuật) xếp cả vận động sớm lẫn khuyến khích những quãng nghỉ vào nhóm khuyến nghị mạnh, dù bằng chứng cho cả hai còn thấp (Sultan 2025). Mỗi lần thức dậy cho con bú, mẹ có thể đi vài vòng trong nhà rồi nằm nghỉ tiếp. Điều cần tránh là nằm lì một chỗ nhiều ngày liền.
Ăn sớm, không cần chờ trung tiện
Nhiều nhà vẫn giữ lệ mổ xong phải đợi "xì hơi" mới cho ăn. Sách Đông y không có câu nào bảo phải chờ trung tiện mới được ăn. Hải Thượng chỉ dặn sau sinh đừng ăn no quá, nấu cháo hoa loãng ăn dần, mỗi ngày thêm lên một ít, khá gần với cách cho ăn sớm từ lỏng đến đặc. Hạ Quế Thành dặn ăn thanh đạm, tránh đồ béo ngọt và thức ăn "đại bổ".
Các hướng dẫn hiện nay cũng không đặt điều kiện ấy. NICE ghi mẹ hồi phục tốt, không biến chứng thì ăn uống bình thường; Hội ERAS (Wilson 2018) khuyên ăn uống bình thường trong vòng 2 giờ sau mổ, ở mức khuyến nghị mạnh. Số liệu chung của 20 thử nghiệm với 4.584 mẹ cho thấy ăn sớm trong 12 giờ đầu giúp ruột hoạt động lại sớm hơn, nằm viện ngắn hơn, mẹ cho con bú lần đầu sớm hơn, mà biến chứng không tăng (Guo 2014). Hướng dẫn của Bộ Y tế nói ở trên cũng dặn mẹ sau sinh ăn đủ lượng, đủ chất, đừng kiêng khem vô lý. Bắt đầu ăn lúc nào, ăn gì khi còn trong viện thì bác sĩ sản quyết theo cuộc mổ của từng mẹ.

Bế con, leo cầu thang, lái xe, quan hệ, tập lại
Những việc này mỗi nơi dặn một mốc tuần, mà bằng chứng lại ít nhất; mốc nào đang lưu hành cũng là ý kiến chuyên gia. NICE cố ý không đặt mốc, chỉ ghi lái xe, mang vật nặng, tập luyện, quan hệ thì làm lại khi mẹ tự thấy đã hồi phục hẳn, kể cả hết đau và cử động không còn vướng. Trang NHS viết mẹ sinh mổ bế và mang con được ngay khi về nhà; việc nặng hơn thì làm lại khi thấy làm được mà không khó chịu, ước chừng có thể mất khoảng 6 tuần.
Một nghiên cứu đo áp lực trong ổ bụng ở 30 phụ nữ không vừa mổ thấy leo cầu thang, đi bộ nhanh, nâng vật 3,6 đến 9 kg từ mặt bàn đều không làm áp lực tăng hơn lúc đứng dậy khỏi ghế; cúi xuống nâng vật chừng 16 kg từ sàn mới làm áp lực lên cao nhất (Weir 2006). Nghiên cứu này không đo vết mổ, nhưng gợi ý cách cúi nâng quan trọng hơn mức nặng. Chúng tôi chưa thấy hướng dẫn hay nghiên cứu nào bảo mẹ sinh mổ phải tránh cầu thang. Nhà nhiều tầng thì cứ đi chậm, vịn tay vịn, đừng vừa bế bé vừa xách đồ.
Ở Úc, 65% mẹ sinh mổ được dặn chờ ít nhất 6 tuần mới lái xe, nhưng 72% đã lái trước mốc ấy, 35% lái trước 3 tuần, và hiếm ai thấy khó chịu (Sedgley 2012). NHS cũng nhắc lúc ra viện mẹ cần người chở về, vì vài tuần đầu chưa lái được. Đó là ô tô; với xe máy thì chúng tôi chưa thấy số liệu.
Quan hệ vợ chồng thì sách Đông y dặn kiêng khá lâu. Hải Thượng ghi 100 ngày, Hạ Quế Thành dặn kiêng trong thời kỳ hậu sản (6 đến 8 tuần), giáo trình châm cứu dặn còn sản dịch thì kiêng. NICE ghi làm lại khi mẹ thấy đã hồi phục, và sinh mổ không làm tăng nguy cơ đau khi quan hệ; các nghiên cứu khác cho kết quả chưa thống nhất.
Với tập luyện, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2022) khuyên mọi mẹ sau sinh không có lý do phải kiêng thì vận động đều, hướng tới 150 phút mỗi tuần, bớt ngồi và nằm một chỗ. WHO không có khuyến nghị riêng cho mẹ sinh mổ.
Mẹ được dặn một mốc tuần cụ thể thì cứ hỏi lại bác sĩ đã mổ cho mình, vì người ấy biết đường khâu và cuộc mổ ra sao.
Có phải ở cữ lâu hơn không
Mẹ sinh mổ thường lại sức chậm hơn. Một nghiên cứu cũ thấy hết 6 tuần, 72% mẹ sinh thường đã khoẻ lại như cũ, còn ở mẹ sinh mổ chỉ 34% (Tulman 1988). Một nghiên cứu ở Mỹ tính số ngày đến khi mẹ sinh con đầu có chuyển dạ hết đau, thôi thuốc giảm đau gây nghiện và tự thấy hồi phục như trước sinh. Một nửa mẹ sinh thường đạt sau 20 ngày, mẹ sinh mổ sau 27 ngày; đến ngày 47 và ngày 50 thì gần như mọi mẹ (95%) ở hai nhóm đều đạt (Komatsu 2017). Chậm hơn chừng một tuần, và mỗi người mỗi khác rất nhiều.
Ở Trung Quốc, một nghiên cứu trên 198 mẹ thấy mẹ sinh mổ có sức khoẻ thể chất kém hơn; cũng trong nghiên cứu ấy, mẹ giữ ở cữ càng chặt thì sức bền càng kém và điểm trầm cảm lúc 6 tuần càng cao (Liu 2012). Hai chuyện đi cùng nhau, nhưng chưa biết kiêng chặt có phải là nguyên nhân hay không.
Ở Huế, một khảo sát thấy mẹ nào cũng giữ ít nhất một điều kiêng, trung bình khoảng 58 ngày (Murray 2015). Chưa có nghiên cứu nào so độ dài ở cữ theo cách sinh, cũng chưa có bằng chứng mẹ sinh mổ phải nằm lâu hơn.
Sách Đông y tính mốc theo khí huyết. Hải Thượng dặn kiêng đến 100 ngày, rồi thêm "nếu khí huyết kém, thì phải kiêng lâu không kể ngày tháng". Hạ Quế Thành gọi tuần đầu là tân sản, tháng đầu là tiểu mãn nguyệt. Với Maciocia, cuộc sinh dài, khó, hoặc mất máu nhiều hơn bình thường thì nghỉ ngơi càng quan trọng; ông dẫn lời Trần Gia Viên rằng bệnh sau sinh dễ thì dễ chữa, sau sinh khó thì khó chữa. Suy ra, ca mổ cấp cứu sau nhiều giờ chuyển dạ hoặc mất nhiều máu cần được chăm kỹ hơn ca mổ chủ động suôn sẻ: ăn ngủ đủ, có người đỡ việc nhà.
Khi lại sức chậm, đầu óc cũng mệt
Mẹ sinh mổ hay so mình với người sinh thường nằm cùng phòng, thấy người ta đã bế con đi lại mà mình còn phải vịn tường. Sang tuần thứ ba, thứ tư, không ít mẹ vẫn rã rời, đầu óc chậm hẳn đi.
Mệt kéo dài, khó tập trung, hay quên, buồn chán đều nên nói ra khi tái khám, với bác sĩ sản hay bác sĩ Đông y đều được. Nguyên do có thể nhiều, từ thiếu ngủ đến mất máu, và người khám phải nghe mẹ kể mới lần ra. Người nhà để mẹ ngủ bù ban ngày, đỡ việc đêm cũng giúp được nhiều.
Vết mổ thế nào thì cần đi khám
Nhiễm khuẩn vết mổ không hiếm. Theo dõi 4.107 mẹ ở Anh trong 30 ngày, cứ khoảng 10 mẹ có 1 mẹ bị (9,6%), nhưng chỉ 0,6% phải nhập viện lại (Wloch 2012). Mẹ béo phì hay đái tháo đường nguy cơ cao hơn. Mẹ nên đi khám sớm khi vết mổ đỏ lan rộng, sưng, đau tăng lên thay vì bớt dần, chảy mủ hay dịch có mùi hôi, mép vết mổ hở ra, hoặc khi bị sốt. Ho, khó thở, bắp chân sưng đau thì phải đi khám ngay, vì đó có thể là cục máu đông; NICE dặn như vậy. Những dấu hiệu nguy hiểm khác sau sinh đã có ở bài 02 của chuỗi.
Thuốc, xoa bụng và châm cứu sau mổ
Thầy Nguyễn Hữu Đức, trong ghi chép về một ca sinh mổ ngày thứ tư, viết: "Thuở xưa, sau khi sanh, từ sanh thường thì tốt đến sanh khó thì xấu lắm, nên khí huyết đại hư." Thầy nhắc đau lưng sau gây tê là chuyện thường gặp, rồi viết tiếp: "Nên nhớ Tây y đã chăm sóc tốt lắm rồi. Nhưng khi bệnh nhân cần mình…" Theo chúng tôi, thầy muốn nói Đông y đỡ được những phần Tây y ít lo tới sau mổ.
Nhiều nhà quen sắc Sinh hoá thang cho người mới sinh, theo lời sách Bảo sản mà Hải Thượng dẫn lại là sinh xong cho uống ngay vài thang. Mẹ sinh mổ thì không nên tự uống ngay. Một bài tổng quan trên Tạp chí Dược Đài Loan (2025) ghi mẹ sinh thường có thể bắt đầu từ hôm sau nếu không ra máu nhiều, không sốt, không đau bụng dữ; mẹ sinh mổ thì khoảng 3 đến 5 ngày mới bắt đầu, uống bao nhiêu thang phải hỏi thầy thuốc. Dược điển Đài Loan ghi người huyết nhiệt mà có ứ thì không dùng bài này.
Ở Đài Loan từng có một mẹ sinh mổ bắt đầu uống Sinh hoá thang từ ngày thứ 8, ba ngày sau bị băng huyết muộn và phải cắt tử cung (Chen 2020). Chỉ một ca thì chưa thể quy cho thuốc. Trong Sinh hoá thang có những vị mà sách dược học Đông y của John và Tina Chen ghi là có thể ảnh hưởng tới thuốc chống đông, nên mẹ đang được tiêm thuốc chống đông sau mổ nhất định phải nói với thầy thuốc trước khi uống. Mẹ đang cho bú thì xem thêm chuyện thuốc ở bài 11 của chuỗi.
Một số nhà còn xoa bụng cho mẹ theo lời dặn trong sách Hải Thượng, hay thắt khăn bối nghệ quanh bụng như bài ca dặn dò khi sinh có câu. Với mẹ sinh mổ, đừng xoa hay buộc đè lên vết mổ chưa lành. Quy trình kỹ thuật châm cứu của Bộ Y tế (Quyết định 792/QĐ-BYT) cũng ghi không xoa bóp bấm huyệt giảm đau sau phẫu thuật khi vết thương còn hở hoặc vùng mổ đang viêm, sưng, chảy dịch.
Về châm cứu, phân tích của Liu trên 26 thử nghiệm, 2.641 mẹ sau mổ thấy châm giúp giảm đau, giúp ruột hoạt động lại và trung tiện sớm hơn; có điều các nghiên cứu khác nhau rất nhiều và chất lượng không đều (Liu 2025). Cần thăm khám trực tiếp để đánh giá cụ thể tình trạng sức khỏe của từng Mẹ.
Mẹ sinh mổ mãi chưa lại sức, đau lưng sau gây tê, ra nhiều mồ hôi, hay muốn biết bao giờ dùng thuốc bổ được thì có thể đến phòng khám, mang theo giấy ra viện và các thuốc đang dùng. Bác sĩ sẽ hỏi kỹ về cuộc mổ rồi điều trị phù hợp với thể trạng, vấn đề sức khỏe của từng Mẹ.
Nguồn tham khảo
- NICE. Caesarean birth (NG192). 2021, cập nhật 06/2025. Khuyến nghị 1.4.46, 1.6.28, 1.6.31, 1.7.3, 1.7.4, 1.7.7, 1.7.8, 1.7.9; Phụ lục A (cập nhật 08/2024). https://www.nice.org.uk/guidance/ng192
- NICE. Surgical site infections: prevention and treatment (NG125). 2019. Khuyến nghị 1.4.3. https://www.nice.org.uk/guidance/ng125
- RCOG. Reducing the Risk of Venous Thromboembolism during Pregnancy and the Puerperium. Green-top Guideline No. 37a. 2015 (tr. 22, 33).
- WHO. WHO recommendations on maternal and newborn care for a positive postnatal experience. Geneva: WHO; 2022. Khuyến nghị 22–23 (tr. xii).
- NHS. Caesarean section – Recovery (xem lại 04/01/2023). https://www.nhs.uk/tests-and-treatments/caesarean-section/recovery/
- Bộ Y tế. Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, ban hành kèm Quyết định 4128/QĐ-BYT ngày 29/7/2016 (tr. 80–81, 83).
- Bộ Y tế. Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Châm cứu, ban hành kèm Quyết định 792/QĐ-BYT ngày 12/3/2013, quy trình 432 (tr. PDF 956).
- Wilson RD et al. Am J Obstet Gynecol. 2018;219(6):523.e1–523.e15. PMID 30240657.
- Sultan P et al. Am J Obstet Gynecol. 2025;233(6S):S184–S198. PMID 40335351.
- Blondon M et al. Chest. 2016;150(3):572–596. PMID 27262227.
- Peleg D et al. Am J Obstet Gynecol. 2016;215(3):388.e1–5. PMID 27018465.
- Toon CD et al. Cochrane Database Syst Rev. 2015;(7):CD010075. PMID 26204454.
- Mao L et al. Asia Pac J Clin Nutr. 2016;25(1):158–164. PMID 26965775.
- Guo J et al. Int J Gynaecol Obstet. 2015;128(2):100–105 (trực tuyến 2014). PMID 25457588.
- Weir LF et al. Obstet Gynecol. 2006;107(2 Pt 1):305–309. PMID 16449116.
- Sedgley JM et al. Aust N Z J Obstet Gynaecol. 2012;52(4):361–365. PMID 22515490.
- Tulman L, Fawcett J. Nurs Res. 1988;37(2):77–81. PMID 3347523.
- Komatsu R et al. Anesthesiology. 2017;127(4):684–694. PMID 28926443.
- Liu YQ et al. Biol Res Nurs. 2014;16(1):55–63 (trực tuyến 2012). PMID 23132403.
- Murray L et al. BMC Pregnancy Childbirth. 2015;15:234. PMID 26423807.
- Wloch C et al. BJOG. 2012;119(11):1324–1333. PMID 22857605.
- Chen HH et al. Tzu Chi Med J. 2020;32(3):298–300. PMID 32955527.
- Liu H et al. Front Med (Lausanne). 2025;12:1583898. PMID 40606445.
- 謝美雪, 謝毓軒, 陳志文. 產後第一方~生化湯. The Journal of Taiwan Pharmacy. 2025;41(1) (tr. 25).
- Chen JK, Chen TT. Chinese Medical Herbology and Pharmacology (tr. PDF 93).
- Hạ Quế Thành. Trung y phụ khoa (bản dịch tiếng Việt), sách tr. 448, 455–456, 472; Sổ tay chẩn đoán điều trị phụ khoa, sách tr. 305.
- Hải Thượng Lãn Ông. Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, tập 1 (tr. 874, 945); tập 2 (tr. 454).
- Trương Trọng Cảnh. Kim Quỹ Yếu Lược (tr. PDF 46, 63).
- Maciocia G. Obstetrics and Gynecology in Chinese Medicine, phần bệnh sau sinh.
- 针灸治疗学 (giáo trình), mục kiêng phòng sự khi còn sản dịch (tr. PDF 262).
- Nguyễn Hữu Đức. Chuyện kể Đông y, quyển 8 (tr. 77–79).




